vanban.org

Bản án 89/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Đăng K phạm tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ; Danh Nh phạm tội Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương…"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ TÂN UYÊN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 89/2025/HS-ST
Ngày 21-5-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Bích Hạnh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Tiền Giang;

Ông Nguyễn Văn Thảo.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Nam - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trọng - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 89/2024/TLST- HS ngày 16 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2025/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 40/2025/HSST-QĐ ngày 14 tháng 5 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Trần Đăng K, sinh năm 1971 tại Bắc Ninh; nơi cư trú: Thôn X, xã Hoài Th, thị xã Thuận Th, tỉnh Bắc Ninh; tạm trú: Số 68, đường Nguyễn Hữu C, khu phố A, phường Đông H, thành phố A, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn L và bà Nguyễn Thị L; có vợ tên Vũ Thị Gi; có 02 người con, lớn sinh năm 2001, nhỏ sinh năm 2011. Tiền sự: Không.

Tiền án: Ngày 07/01/2019 thực hiện hành vi Đánh bạc. Tại Bản án số 185/2019/HSST ngày 20/6/2019 của Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) A, tỉnh Bình Dương xử phạt 20.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”. Bị cáo đóng phạt ngày 03/7/2024, chấp hành xong án phí ngày 06/9/2019.

Ngày 16/11/2019, có hành vi điều khiển xe ô tô tham gia giao thông vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ làm chết 01 người. Ngày 27/5/2024, bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tân Uyên khởi tố vụ án, khởi tố bị can và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; có mặt.

2. Danh Nh, sinh năm 1999 tại Kiên Giang; nơi cư trú: Ấp B, xã Ngọc H, huyện Giồng R, tỉnh Kiên Giang; tạm trú: Tổ S, khu phố Khánh V, phường Khánh B, thành phố U, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: Lớp 6/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Danh Th và bà Thị Th; có vợ tên Thị Đ. Tiền sự, tiền án: Không.

Ngày 16/11/2019, có hành vi “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”. Ngày 27/5/2024, bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Tân Uyên khởi tố vụ án, khởi tố bị can và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay; xin xét xử vắng mặt.

Bị hại: Danh Ngh, sinh năm 2001 (đã chết).

Người đại diện hợp pháp của bị hại:

- Ông Danh Th, sinh năm 1972 (cha đẻ); xin vắng mặt.

- Bà Thị Th, sinh năm 1967 (mẹ đẻ).

Cùng địa chỉ: Số B, ấp B, xã Ngọc H, huyện Giồng R, tỉnh Kiên Giang.

Người đại diện hợp pháp của bà Thị Th: Ông Danh Th, sinh năm 1972; địa chỉ: Số B, ấp B, xã Ngọc H, huyện Giồng R, tỉnh Kiên Giang; là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản quyền ngày 25/12/2019); xin vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Công ty TNHH Tuyển An B; địa chỉ: D1 Cư xá Gi, khu phố C, phường An B, thành phố Biên H, tỉnh Đồng Nai; vắng mặt.

- Công ty TNHH VT Hiệp Thạnh Ph; địa chỉ: C Quang Tr, phường C, quận Gò V, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.

- Bà Vũ Thị Gi, sinh năm 1977; địa chỉ: Khu phố A, phường Đông H, thành phố A, tỉnh Bình Dương; xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Đăng K có giấy phép lái xe hạng FC do Sở giao thông vận tải tỉnh Bình Dương cấp ngày 02/8/2018, có giá trị đến ngày 02/8/2024.

Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 16/11/2019, K điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 60C-119.83 kéo theo sơ mi rơ moóc biển số 51R-040.94 chở ván ép lưu thông theo hướng ngã tư Hội Ngh đường ĐT747B về hướng vòng xoay Kim H thuộc phường B, thị xã (nay là thành phố) U để đến khu vực cảng Cát L thuộc thành phố Đ, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi K điều khiển xe ô tô đầu kéo 60C-119.83 kéo theo sơ mi rơ moóc 51R-040.94 lưu thông đến đoạn đường ĐT747B thuộc khu phố Ông Đ, phường H, thị xã (nay là thành phố) U thì K thấy xe thiếu hơi thắng nên điều khiển xe dừng lại trên làn đường dành cho xe ô tô lưu thông; sát dải phân cách để kiểm tra thắng xe. Lúc này, xe vẫn nổ máy, K bật đèn xi nhan hai bên cảnh báo nguy hiểm nhưng không đặt biển báo cảnh báo nguy hiểm khi gặp sự cố. Sau khi kiểm tra phanh xong, K đi sang bên trái đường để ăn tối. Cùng thời điểm này, Danh Ngh điều khiển xe mô tô biển số 68G1-618.30 (không có giấy phép lái xe theo quy định) lưu thông trên làn đường xe ô tô dẫn đến phần đầu xe 68G1-618.30 của Ngh điều khiển va chạm vào phía sau bên phải rơ moóc 51R- 040.94 cùng chiều phía trước. Hậu quả, Danh Ngh tử vong tại hiện trường.

Vụ việc được trình báo đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã (nay là thành phố) Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm phương tiện và tạm giữ đồ vật liên quan gồm: 01 xe mô tô 68G1-618.30, xe ô tô đầu kéo 60C-119.83 kéo theo sơ mi rơ moóc 51R-040.94, 01 giấy chứng nhận nhận đăng ký ô tô đầu kéo 60C-119.83, 01 giấy chứng nhận sơ mi rơ moóc 51R-040.94, 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Trần Đăng K, 01 giấy phép lái xe hạng FC mang tên Trần Đăng K.

Hiện trường vụ tai nạn giao thông là đoạn đường thẳng một chiều mặt đường trải nhựa, chiều rộng mặt đường là 26m, giữa đường có dải phân cách chia thành hai phần đường, mỗi phần rộng 12m, mỗi phần đường chia làm ba làn đường, mỗi làn đường rộng 4m, đoạn đường có đèn chiếu sáng.

Tại Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 946/GĐPY ngày 18/11/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận: Nạn nhân Danh Ngh bị đa chấn thương, chấn thương sọ não, dập não dẫn đến tử vong.

Tại kết luận giám định số 389 ngày 27/11/2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận trong máu của nạn nhân Danh Ngh có thành phần Ethanol, nồng độ:127,47mg/100ml.

Tại Bản kết luận giám định số 20/KLGĐ-PC09 ngày 20/5/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận: Hệ thống phanh chính xe đầu kéo và sơ mi rơ moóc có hệ thống đường hơi bị xì, rò rỉ làm giảm hiệu quả phanh dẫn đến không đảm bảo an toàn kỹ thuật trên hệ thống phanh. Nguyên nhân là do vị trí nối dẫn hơi giữa đầu kéo với sơ mi rơ moóc của chân phanh bị xì, rò rỉ do ron cao su hơi tay bị xơ cứng suy giảm sự đàn hồi không giữ được độ khép kín của đường hơi. Vị trí hàn bên phải bình hơi của sơ mi rơ moóc có vết hàn bị oxy hoá dẫn đến rò rỉ hơi.

Xe mô tô biển số 68G1-618.30 do Danh Nh (là anh của Danh Ngh) đứng tên chủ sở hữu. Ngày 16/11/2019, Nh biết rõ Ngh không có giấy phép lái xe nhưng vẫn giao xe mô tô cho Ngh điều khiển, hậu quả Ngh bị tai nạn giao thông và tử vong. Ngày 15/7/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tân Uyên đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 152 trả xe mô tô 68G1-618.30 cho Nh.

Xe ô tô đầu kéo 60C-119.83 do Công ty TNHH Tuyển An B thuộc phường An B, thành phố Biên H, tỉnh Đồng Nai đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Qua xác minh, Công ty TNHH Tuyển An B không còn hoạt động. Rơ moóc 51R-040.94 do Công ty TNHH VT Hiệp Thạnh Ph thuộc phường 9, quận Gò V, Thành phố Hồ Chí Minh đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Qua xác minh, Công ty TNHH VT Hiệp Thạnh Ph không còn hoạt động. K khai nhận: xe ô tô đầu kéo 60C-119.83 kéo theo rơ moóc 51R-040.94 do K mua lại của một người nam thanh niên (không rõ lai lịch), khi mua không làm thủ tục mua bán.

Ngày 15/7/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tân Uyên đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 152 trả lại xe ô tô đầu kéo 60C-119.83 kéo theo rơ moóc 51R- 040.94, 01 giấy chứng nhận nhận đăng ký ô tô đầu kéo 60C-11.983, 01 giấy chứng nhận rơ moóc 51R-040.94, 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Trần Đăng K, 01 giấy phép lái xe hạng FC mang tên Trần Đăng K cho Trần Đăng K.

Về trách nhiệm dân sự: Trần Đăng K đã bồi thường cho ông Danh Th (người đại diện hợp pháp của bị hại Danh Ngh) số tiền 90.000.000 đồng. Ông Th không có yêu cầu gì khác.

Bản Cáo trạng số 116/CT-VKSTU ngày 15/4/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Trần Đăng K về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Danh Nh về tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 264 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử như sau:

Về trách nhiệm hình sự:

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 36 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Đăng K từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm cải tạo không giam giữ.

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 264; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 36 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Danh Nh từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng cải tạo không giam giữ.

Bị cáo Trần Đăng K và Danh Nh khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thống nhất tội danh, khung hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng. Bị cáo Nh xin vắng mặt; bị cáo K có mặt không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo K xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo cơ hội sửa chữa lỗi lầm để trở thành công dân tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Tân Uyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tuy nhiên, vụ việc xảy ra ngày 16/11/2019, đến ngày 27/5/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tân Uyên mới khởi tố vụ án hình sự là vi phạm thời hạn điều tra theo quy định tại Điều 172 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Bị cáo Danh Nh; người đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa. Quá trình điều tra, lời khai của các bị cáo và những người tham gia tố tụng trên không mâu thuẫn các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, bị cáo Nhân và người đại diện hợp pháp của bị hại có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát và bị cáo Trần Đăng K đồng ý xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng nêu trên. Xét thấy, việc vắng mặt của bị cáo Nh, người đại diện hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ Điều 290, 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt những người trên.

[3] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với những chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử đủ căn cứ kết luận:

[3.1] Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 16/11/2019, tại đoạn đường ĐT747B thuộc khu phố Ông Đ, phường H, thị xã (nay là thành phố) U, tỉnh Bình Dương, Trần Đăng K có hành vi điều khiển xe ô tô đầu kéo 60C-119.83 kéo theo sơ mi rơ moóc 51R-040.94 dừng lại trên làn đường của xe ô tô con; sát dải phân cách để kiểm tra phanh xe, sau đó K đi ăn tối. Tuy nhiên, khi điều khiển xe dừng lại, K không thực hiện các biện pháp an toàn, không đặt biển báo cảnh báo nguy hiểm khi gặp sự cố dẫn đến phần đầu xe 68G1-618.30 do Danh Ngh điều khiển đi cùng chiều trên làn đường ô tô va chạm vào phía sau bên phải rơ moóc 51R-040.94. Hậu quả, Danh Ngh tử vong tại hiện trường. Hành vi của bị cáo Trần Đăng K đã vi phạm quy định tại điểm d khoản 3 Điều 18 của Luật giao thông đường bộ, hậu quả làm một người chết nên đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Danh Nh biết rõ Danh Ngh không có giấy phép lái xe nhưng vẫn giao xe mô tô 68G1-618.30 cho Ngh điều khiển thì xảy ra tai nạn, hậu quả Ngh bị tử vong. Hành vi của bị cáo Danh Nh đã vi phạm quy định tại khoản 10 Điều 8 của Luật giao thông đường bộ, gây hậu quả làm một người chết nên đã phạm vào tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 264 của Bộ luật Hình sự.

[4] Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên truy tố bị các bị cáo về tội danh và khung hình phạt như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[5] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Việc thiếu ý thức chấp hành luật giao thông đường bộ của người tham gia giao thông là nguyên nhân chính dẫn đến nhiều vụ tai nạn nghiêm trọng, ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe của nạn nhân. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm quy định của Nhà nước về an toàn, trật tự công cộng, tước đi mạng sống của người khác, gây đau thương, mất mát cho gia đình nạn nhân, ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn giao thông tại địa phương. Do đó, cần xử phạt các bị cáo mức hình phạt phù hợp với hành vi các bị cáo đã thực hiện nhằm đảm bảo tính giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, vụ việc xảy ra cũng có một phần lỗi của bị hại khi điều khiển xe mô tô nhưng không có giấy phép lái xe; đã sử dụng rượu, bia (nồng độ cồn trong máu 127,47mg/100ml) và chạy không đúng làn đường quy định. Do đó, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt để các bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Trần Đăng K có 01 tiền án chưa được xóa án tích, tuy nhiên lần phạm tội này bị cáo phạm tội với lỗi vô ý và thuộc tội phạm nghiêm trọng nên không thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Danh Nh không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Đối với Trần Đăng K quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, sự việc xảy ra có một phần lỗi của bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, có cha ruột được Bộ Quốc phòng tặng huy hiệu chiến sĩ Trường Sơn và được Ban liên lạc Hội cựu sĩ quan Sư đoàn 470 tặng Kỷ niệm chương nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Đối với Danh Nhân quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, được người đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Bà Vũ Thị Gi vợ bị cáo Trần Đăng K và bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 90.000.000 đồng (Chín mươi triệu đồng), trong đó bà Gi bỏ ra số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng). Gia đình bị hại không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[9] Đối với bà Vũ Thị Gi vợ bị cáo Trần Đăng K đã tự nguyện cùng bị cáo K bồi thường cho gia đình bị hại nhưng không yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị cáo phải trả lại số tiền trên nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[10] Xét thấy, mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo. Tuy nhiên, đối với bị cáo Danh Nh phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, hiện bị cáo đang làm công nhân nên Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt tiền đối với bị cáo Nh cũng đủ tác dụng răn đe và giáo dục bị cáo.

[11] Về khấu trừ thu nhập: Xét bị cáo K có hoàn cảnh gia đình khó khăn, thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn việc khấu trừ thu nhập khi thực hiện nghĩa vụ theo quy định về cải tạo không giam giữ cho bị cáo.

[12] Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

Đối với xe mô tô biển số 68G1-618.30 do Danh Nh (anh của Danh Ngh) đứng tên chủ sở hữu. Ngày 16/11/2019, giao xe mô tô cho Ngh điều khiển, hậu quả Ngh bị tai nạn giao thông và tử vong. Ngày 15/7/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tân Uyên đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả xe mô tô 68G1-618.30 cho bị cáo Danh Nh nên không đặt ra xem xét.

Đối với xe ô tô đầu kéo 60C-119.83 do Công ty TNHH Tuyển An B thuộc phường An B, thành phố Biên H, tỉnh Đồng Nai đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Qua xác minh, Công ty TNHH Tuyển An B không còn hoạt động. Rơ moóc 51R-040.94 do Công ty TNHH VT Hiệp Thạnh Ph thuộc phường C, quận Gò V, Thành phố Hồ Chí Minh đứng tên đăng ký chủ sở hữu. Qua xác minh, Công ty TNHH VT Hiệp Thạnh Ph không còn hoạt động. Bị cáo K khai nhận: xe ô tô đầu kéo 60C-119.83 kéo theo rơ moóc 51R-040.94 do K mua lại của một người nam thanh niên (không rõ lai lịch), khi mua không làm thủ tục mua bán. Ngày 15/7/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tân Uyên đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe ô tô đầu kéo 60C-119.83 kéo theo rơ moóc 51R-040.94, 01 giấy chứng nhận nhận đăng ký ô tô đầu kéo 60C-11.983, 01 giấy chứng nhận rơ moóc 51R-040.94, 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Trần Đăng K, 01 giấy phép lái xe hạng FC mang tên Trần Đăng K cho bị cáo K nên không đặt ra xem xét.

[13] Về án phí sơ thẩm: Các bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Trần Đăng K phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; bị cáo Danh Nh phạm tội “Giao cho người không đủ điều kiện điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ”.

1. Về trách nhiệm hình sự:

1.1 Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Đăng K 02 (Hai) năm cải tạo không giam giữ. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự Công an tỉnh Bình Dương nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Trần Đăng K cho Ủy ban nhân dân phường Đông Hòa, thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp bị cáo Trần Đăng K thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật thi hành án hình sự.

Miễn việc khấu trừ thu nhập cho bị cáo Trần Đăng K.

1.2. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 264; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Danh Nh 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng).

2. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét.

3. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Không đặt ra xem xét.

4. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; buộc mỗi bị cáo Trần Đăng K và Danh Nh phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nếu vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ