- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "vương Thu H xin ly hôn Nguyễn Minh Th"
- Tòa quyết gì? Xử cho chị Vương Thu H được ly hôn anh Nguyễn Minh Th.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ XUYÊN THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 89/2025/HNGĐ-ST Ngày 10/4/2025 V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ XUYÊN, TP HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phùng Văn Phong
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Ngọc Yến và bà Lê Thị Phương Mai.
Ghi biên bản phiên tòa: Bà Phạm Thu Uyên - Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Xuyên tham gia phiên toà: Ông Hoàng Đức Thịnh - Kiểm sát viên.
Mở phiên tòa ngày 10 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 15/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 01 năm 2025 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2025/QĐST-HNGĐ ngày 28/3/2025 giữa:
1. Nguyên đơn: Chị Vương Thu H, sinh năm 1999;
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Minh Th, sinh năm 1996;
Đều có hộ khẩu thường trú và cư trú tại: Thôn Đ, xã Th, huyện X, Thành phố Hà Nội.
Chị Hoài có mặt, anh Thuận đã được triệu tập phiên toà hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn đề ngày 06/01/2025, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn Vương Thu Hoài trình bày:
Chị kết hôn với với anh Nguyễn Minh Th từ năm 2018 là hôn nhân tự nguyện tiến bộ, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tri Thủy, huyện Phú Xuyên, TP Hà Nội. Sau khi cưới vợ chồng về chung sống với nhau ngay tại thôn Bái Đô, xã Tri Thủy, huyện Phú Xuyên. Vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến cuối năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, tính cách không hòa hợp, ngoài ra anh Thuận còn ngoại tình, sau khi bị chị bắt gặp, anh Thuận thừa nhận và hứa sẽ chấm dứt nhưng từ đó đến nay anh Th vẫn tiếp tục có mối quan hệ với nhiều người phụ nữ khác nữa và thường xuyên đi qua đêm không về, không quan tâm gì đến vợ con. Vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, cãi vã, to tiếng, xúc phạm nhau, tình cảm không còn, cuộc sống hôn nhân bế tắc. Do áp lực và căng thẳng quá nên chị đã chuyển về nhà ngoại, vợ chồng đã ly thân từ 10/3/2025 đến nay.
Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, tình cảm không còn, hôn nhân tan vỡ không thể hàn gắn… nên chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Phú Xuyên giải quyết cho chị được ly hôn anh Thuận để giải phóng cho cả hai.
Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Hà Phương Linh, sinh ngày 07/8/2021 và Nguyễn Hà Khánh Linh, sinh ngày 16/10/2024. Ly hôn chị đề nghị được nhận nuôi cả 02 con chung và không yêu cầu anh Thuận phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, công nợ chung của vợ chồng: Chị Hoài khẳng định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về phía bị đơn anh Nguyễn Minh Th:
Anh Thuận thống nhất với trình bày của chị H về thời gian kết hôn, quá trình chung sống và nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng. Nay chị Hoài làm đơn ly hôn, anh nhận thấy vợ chồng mâu thuẫn đã trầm trọng, tình cảm không còn… nhưng anh không muốn ly hôn với chị Hoài vì không muốn con chung sống thiếu thốn tình cảm của cả bố lẫn mẹ. Trường hợp chị Hoài cương quyết ly hôn thì anh cũng đành chấp nhận.
Vợ chồng có 02 con chung như chị Hoài trình bày tại Toà. Ly hôn, anh đề nghị được nhận nuôi cả 02 con chung, không yêu cầu chị Hoài phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, công nợ vợ chồng: Đều không có, không đề nghị Tòa xét.
UBND xã Tri Thuỷ nơi các đương sự cư trú có quan điểm:
Quá trình chung sống tại địa phương, vợ chồng chị Vương Thu H và anh Nguyễn Minh Th có nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do chị Hoài nghi ngờ anh Thuận có quan hệ ngoài luồng với những người phụ nữ khác và phía anh Thuận cũng đã thừa nhận. Vợ chồng coi nhau như người dưng, không còn tình cảm, mâu thuẫn đã đến mức trầm trọng... nên đề nghị Toà án giải quyết cho ly hôn để giải phóng cho cả hai bên.
Vợ chồng có 02 con chung như các bên đã trình bày, ly hôn, đề nghị Tòa án căn cứ theo quy định pháp luật giao con chung cho người có đủ điều kiện nuôi dưỡng, riêng cháu Khánh Linh dưới 36 tháng tuổi nên giao cho chị Hoài nuôi dưỡng là hợp lẽ.
Tài sản chung, công nợ vợ chồng UBND xã không nắm rõ nhưng không thấy có tranh chấp gì liên quan đến công nợ đối với chị Hoài, anh Thuận tại địa phương.
Đại diện VKSND tham gia phiên toà xác định:
- Quá trình tố tụng cũng như tại phiên toà, Thẩm phán, Thư ký được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng các quy định về thu thập chứng cứ, chấp hành đúng pháp luật tố tụng. Các đương sự đã được tạo mọi điều kiện để thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ, bị đơn chưa thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình trong suốt quá trình tố tụng cũng như tại phiên toà.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình, xử: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị H; giao con chung Nguyễn Hà Kh Linh cho chị Hoài trực tiếp nuôi dưỡng, giao con chung Nguyễn Hà Phương L cho anh Th trực tiếp nuôi dưỡng; không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau; Tài sản chung và công nợ chung hai bên không yêu cầu nên không đặt ra; Chị Hoài phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở lời trình bày của các bên đương sự và quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng:
Đây là vụ án về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình ” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, do nơi cư trú của bị đơn thuộc xã Tri Thủy, huyện Phú Xuyên, TP Hà Nội nên việc TAND huyện Phú Xuyên thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc bị đơn vắng mặt tại phiên tòa: Anh Th đã được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, theo quy định của khoản 2 Điều 227 của BLTTDS, Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt anh Thuận.
. Về quan hệ hôn nhân và yêu cầu của các bên:
Năm 2018, chị Vương Thu Hoài kết hôn với anh Nguyễn Minh Thuận đây là cuộc hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tri Thủy, huyện Phú Xuyên, thành phố Hà Nội ( Đăng ký số 30 ngày 17 tháng 5 năm 2018 ). Quá trình chung sống, vợ chồng đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính cách không hòa hợp cộng với việc anh Thuận có mối quan hệ ngoài luồng với nhiều người phụ nữ khác khiến vợ chồng thường xuyên xảy ra cãi vã, xô sát và đã sống ly thân nhau. Xác định hôn nhân tan vỡ, chị H có đơn xin ly hôn, phía anh Thuận không muốn ly hôn song có thái độ bỏ mặc, không có biện pháp hàn gắn tình cảm, không mong muốn vợ chồng đoàn tụ. Tại phiên toà hôm nay, chị Hoài vẫn giữ nguyên quan điểm của mình.
Xét mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Hoài và anh Thuận đã trầm trọng, từ cả hai phía đều có chung nhận thức tình cảm vợ chồng đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, lý do anh Thuận không đồng ý ly hôn vì không muốn con chung thiếu thốn tình cảm của hai bên là chưa đủ sức thuyết phục … Yêu cầu xin ly hôn của chị Hoài là có cơ sở, được chấp nhận.
. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Hà Phương L, sinh ngày 07/8/2021 và Nguyễn Hà Khánh L, sinh ngày 16/10/2024. Ly hôn, cả anh Thuận và chị H đều xin được nuôi cả hai con chung.
Xét thấy: Cháu Khánh L đến nay mới hơn 5 tháng tuổi, phía chị Hoài có nguyện vọng nuôi cháu Khánh Linh. Cháu Phương Linh hiện đang ở cùng anh Thuận, bản thân anh Thuận cũng có nguyện vọng nuôi con... Vì vậy, để ổn định sự phát triển của con chung cũng như điều kiện nuôi dưỡng chăm sóc con chung, nên giao con chung Nguyễn Hà Khánh L cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; giao con chung Nguyễn Hà Phương L cho anh Th trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp; không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau; Anh Thuận, chị Hoài đều có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.
.Về tài sản chung, công nợ chung: Các bên thừa nhận vợ chồng không có tài sản chung, không có công nợ chung và không yêu cầu Tòa xét nên không xét.
. Về án phí và quyền kháng cáo:
Chị Hoài phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm. Chị Hoài, anh Thuận có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên:
1. Xử cho chị Vương Thu H được ly hôn anh Nguyễn Minh Th.
2. Giao con chung là Nguyễn Hà Phương Linh, sinh ngày 07/8/2021 cho anh Nguyễn Minh Thuận trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; giao con chung là Nguyễn Hà Khánh Linh, sinh ngày 16/10/2024 cho chị Vương Thu Hoài trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; Không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau; Anh Thuận, chị Hoài đều có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được phép ngăn cản.
3. Về tài sản, công nợ chung: Các bên không đề nghị xét nên không xét.
4. Về án phí: Chị Vương Thu Hoài phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm; được khấu trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0015712 ngày 17/01/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Xuyên. Chị H đã nộp đủ tiền án phí sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, chị Vương Thu H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh Nguyễn Minh Thuận có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hợp lệ.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TANDTP Hà Nội - VKSND huyện Phú Xuyên - Chi cục THA huyện Phú Xuyên - Các đương sự - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ ( đã ký) Phùng Văn Phong |