- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Phạm Thị Thảo N - Lý Thái L"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Phạm Thị Thảo N về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” đối với ông Lý Thái L.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 264 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU- TP. ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 89 /2024/HNGĐ-ST Ngày: 19 - 12 - 2024 V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU - TP ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thị Thái
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Bình
Bà Nguyễn Thị Thanh Bình
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Kim Tuyến - Thư ký Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Việt Vương - Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 417/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 73/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Phạm Thị Thảo N, Sinh năm 1994, Địa chỉ: Tổ B, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Có mặt
- Bị đơn: ông Lý Thái L, Sinh năm 1986, Địa chỉ: Tổ B, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện gửi đến Toà án và tại phiên tòa, nguyên đơn - bà Phạm Thị Thảo N trình bày:
Bà Phạm Thị Thảo N và ông Lý Thái L kết hôn năm 2012, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Sau khi có con chung thì vợ chồng chung bắt đầu phát sinh mâu thuẫn và đến năm 2022 thì mâu thuẫn trầm trọng kéo dài cho đến nay. Nguyên nhân do ông L không lo làm ăn, thiếu trách nhiệm với gia đình, nghiện ma túy. Bà N và gia đình đã nhiều lần khuyên bảo, động viên nhưng ông L không chịu sửa đổi. Nay bà Phạm Thị Thảo N xác định không còn tình cảm với ông L, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, hôn nhân không đạt được mục đích nên yêu cầu ly hôn với ông Lý Thái L.
Về con chung: Bà Phạm Thị T N xác định bà và ông Lý Thái L có một con chung là Lý Thái L1 - Sinh ngày 05/11/2012. Ly hôn, bà N có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Phạm Thị T N xác định bà và ông Lý Thái L không có tài sản chung, không có nợ chung.
* Bị đơn là ông Lý Thái L vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án nhưng tại Biên bản lấy lời khai ngày 12/11/2024 thể hiện:
Về quan hệ hôn nhân: ông L xác định như lời trình bày của bà N về thời gian và điều kiện kết hôn. Nay bà N yêu cầu ly hôn thì ông đồng ý với ý kiến của bà N.
Về con chung: Ông Lý Thái L xác định ông và bà Phạm Thị Thảo N có một con chung là Lý Thái L1 - Sinh ngày 05/11/2012. Ly hôn, ông L thống nhất giao con chung cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng, ông L không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Ông Lý Thái L xác định ông và bà Phạm Thị T N không có tài sản chung, không có nợ chung.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu phát biểu ý kiến:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thục hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự
Về quan hệ hôn nhân: qua xem xét các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa, có căn cứ xác định mâu thuẫn của vợ chồng giữa bà N và ông L đã trầm trọng, kéo dài nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N. Về con chung: nguyện vọng được nuôi con của bà N là có căn cứ, phù hợp với Điều 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình và ý kiến của bị đơn nên đề nghị chấp nhận, ông L không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: nguyên đơn và bị đơn cùng xác định không có nên không đề cập đến.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu, Hội đồng xét xử nhận định:
* Về thủ tục tố tụng:
Yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Thảo N đối với ông Lý Thái L là tranh chấp về hôn nhân gia đình, bị đơn có địa chỉ cư trú tại quận L nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ông Lý Thái L vắng mặt tại phiên tòa nhưng đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
* Về nội dung vụ án:
Đối với yêu cầu ly hôn của nguyên đơn, thấy rằng:
Năm 2012, bà Phạm Thị Thảo N và ông Lý Thái L tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H (Giấy chứng nhận kết hôn số 97, quyển số 01/2012), do vậy đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Các bên có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
Theo trình bày của bà N và ông L thì quá trình sống chung giữa vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn và không còn khả năng hàn gắn. Do vậy việc bà Phạm Thị Thảo N cho rằng mâu thuẫn giữa vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được và yêu cầu ly hôn với ông Lý Thái L là có căn cứ, phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, cũng như nguyện vọng của ông Lý Thái L nên cần chấp nhận.
Về yêu cầu nuôi dưỡng con chung của nguyên đơn thì thấy:
Bà Phạm Thị Thảo N xác định bà và ông Lý Thái L có một con chung là Lý Thái L1 - Sinh ngày 05/11/2012. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bà N yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông L cấp dưỡng nuôi con.
Xét yêu cầu trên đây của bà N, thấy rằng: Quá trình giải quyết vụ án, ông L đồng ý giao con chung cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng và hiện tại cháu Lý Thái L1 đang sinh sống cùng mẹ, do vậy việc tiếp tục giao cháu L1 cho bà Phạm Thị Thảo N trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với thực tế cũng như ý chí của các bên. Bà N và ông L đều thống nhất không cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Bà Phạm Thị Thảo N và ông Lý Thái L đều xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử cần chấp nhận.
Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm bà Phạm Thị Thảo N phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 264, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Phạm Thị Thảo N về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” đối với ông Lý Thái L.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: xử cho bà Phạm Thị Thảo N ly hôn với ông Lý Thái L.
2. Về con chung: Giao cho bà Phạm Thị Thảo N trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lý Thái L1 - Sinh ngày 05/11/2012 cho đến khi thành niên. Ông Lý Thái L không cấp dưỡng nuôi con.
Các bên vẫn có mọi quyền và nghĩa vụ đối với con chung. Vì quyền lợi của con chung, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng, yêu cầu cấp dưỡng và thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Buộc bà Phạm Thị Thảo N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn, được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng bà N đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0008936 ngày 14/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu. Bà N đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
4. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Phạm Thị Thảo N và ông Lý Thái L xác định không có tài sản chung, không có nợ chung.
5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Người tham gia tố tụng; - VKSND quận Liên Chiểu; - UBND phường H (GCNKH số 97, quyển số 01/2012); - Chi cục THADS q . Liên Chiểu; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA DƯƠNG THỊ THÁI |