vanban.org

Bản án 89/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Bà Võ Thanh T được ly hôn với ông La Ngọc K.

Về nuôi con chung: Ông La Ngọc K được trực tiếp nuôi con chung tên La Ngọc N, sinh ngày 25-12-2010, hiện đang sống chung với ông K. Bà Võ Thanh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Bà T được quyền thăm nom và chăm sóc con chung, khi cần thiết vì lợi ích con chung, bà T và ông K có quyền yêu cầu th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Võ Thanh Tuyền - ly hôn - La Ngọc K"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Bà Võ Thanh T được ly hôn với ông La Ngọc K.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC HUỆ
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 89/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 28-11-2024
V/v “ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HUỆ TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Gái.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Thi Hữu Giàu.

Bà Lê Thị Hà Giang.

- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Đông Sang - Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ, tỉnh Long An.

Ngày 28 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 268/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 10 năm 2024 về việc “ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Võ Thanh T - Sinh năm 1991 - Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện Đ, tỉnh Long An. (vắng mặt)

- Bị đơn: Ông La Ngọc K - Sinh năm 1987 - Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện Đ, tỉnh Long An. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 24-9-2024, quá trình tố tụng nguyên đơn bà Võ Thanh T trình bày:

Bà và ông La Ngọc K cưới nhau vào năm 2010, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện Đ, tỉnh Long An theo Giấy chứng nhận kết hôn số 95/2010, quyển số 01/2009 ngày 30-11-2010. Bà và ông K sống chung hạnh phúc đến năm 2023 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cải vã mất hạnh phúc gia đình. Mặc dù đã cho nhau cơ hội để hàn gắn nhưng vẫn không có kết quả. Bà và ông K sống ly thân nay khoảng 6 tháng.

Về hôn nhân: Bà yêu cầu ly hôn ông La Ngọc K.

Về nuôi con chung: Có 01 con chung tên La Ngọc N, sinh ngày 25-12-2010; hiện đang sống chung với ông K. Khi ly hôn, bà yêu cầu ông K trực tiếp nuôi con chung, bà không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về chia tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 28-11-2024, quá trình tố tụng bị đơn ông La Ngọc K trình bày:

Ông đồng ý lời trình bày của bà T về ngày tháng, điều kiện kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn, thời gian ly thân, không có tài sản chung và nợ chung.

Về hôn nhân: Ông đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà Võ Thanh T.

Về nuôi con chung: Ông thống nhất có 01 con chung tên La Ngọc N, sinh ngày 25-12-2010; hiện đang sống chung với ông. Khi ly hôn, ông trực tiếp nuôi con chung, bà T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Nguyên đơn bà T có mặt tại phiên tòa, bị đơn ông K vắng mặt tại phiên tòa không có lý do lần thứ hai nên Tòa án tiến hành xét xử vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Bà Võ Thanh T khởi kiện yêu cầu ly hôn ông La Ngọc K, Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ tỉnh Long An thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Ông K được tống đạt hợp lệ các thủ tục tố tụng của Tòa án nhưng ông không cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh cho quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của ông, không có mặt để tham gia phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét xử vụ án theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Bà Võ Thanh T và ông La Ngọc K chung sống có đăng ký kết hôn ngày 30-11-2010 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện Đ, tỉnh Long An. Quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông K là hôn nhân hợp pháp theo quy định của pháp luật Hôn nhân và gia đình.

Xét yêu cầu ly hôn của bà T, Hội đồng xét xử nhận định: bà T cho rằng vợ chồng xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên cải vã gây mất hạnh phúc gia đình. Ông K vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không cung cấp chứng cứ chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, bỏ mặc mối quan hệ hôn nhân với bà T. Ngày 28-11-2024, ông K cung cấp bản tự khai đồng ý ly hôn với bà T. Vì vậy, qua lời trình bày của bà T nhận thấy mâu thuẫn giữa bà T và ông K đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, việc bà T yêu cầu ly hôn với ông K là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về nuôi con chung: xét từ khi bà T và ông K sống ly thân, con chung tên La Ngọc N, sinh ngày 25-12-2010 do ông K nuôi dưỡng. Vì vậy, nhằm tránh sự thay đổi tâm lý con chung nên giao con chung cho ông K tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.

Về cấp dưỡng nuôi con: Xét việc ông K không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung là tự nguyện, phù hợp quy định tại các Điều 82, 107, 110, 116 và 118 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên ghi nhận.

Về chia tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, xét thấy:

Bà T là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn, nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp. Bà T đã nộp đủ tiền án phí.

Ông K không phải chịu tiền án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; các Điều 51, 56, 81, 82, 107, 110, 116 và 118 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Về hôn nhân: Bà Võ Thanh T được ly hôn với ông La Ngọc K.

2. Về nuôi con chung: Ông La Ngọc K được trực tiếp nuôi con chung tên La Ngọc N, sinh ngày 25-12-2010, hiện đang sống chung với ông K. Bà Võ Thanh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Bà T được quyền thăm nom và chăm sóc con chung, khi cần thiết vì lợi ích con chung, bà T và ông K có quyền yêu cầu thay đổi tình trạng nuôi con và yêu cầu thay đổi khoản cấp dưỡng nuôi con theo luật hôn nhân và gia đình.

3. Về chia tài sản chung và nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Võ Thanh T phải chịu 300.000 đồng tiền án phí ly hôn, khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp (theo biên lai thu số 0004741 ngày 16-10-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Huệ).

5. Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ