vanban.org

Bản án 89/2024/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn bà Lê Thị Thu H đối với bị đơn ông Phan Minh T.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Thu H được ly hôn với ông Phan Minh T. Về án phí sơ thẩm: Bà Lê Thị Thu H phải chịu 300.000đồng án phí Hôn nhân và gia đình nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí bà H đã nộp 300.000đồng theo biên lai thu số 0010229 ngày 14/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huy… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Thị Thu H tranh chấp ly hôn Phan Minh T"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn bà Lê Thị Thu H đối với bị đơn ông Phan Minh T.
  • Căn cứ chính? Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C
TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 89/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 11-06-2024
V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C- TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Quyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trương Thành Phương.

2. Bà Phạm Ngọc Mai.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trần Tấn Huy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Long An.

Ngày 11 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 178/2024/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị Thu H, sinh năm 1997; Địa chỉ: ấp K, xã B, huyện B, tỉnh Long An.

- Bị đơn: Ông Phan Minh T, sinh năm 1991; Địa chỉ: Ấp C, xã L, huyện C, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ly hôn ngày 07 tháng 3 năm 2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Lê Thị Thu H trình bày: Bà và ông Phan Minh T cưới nhau năm 2016 và thực hiện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện C theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 47/2016, ngày 03/8/2016. Thời gian đầu sau khi cưới vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến năm 2018 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng ý kiến trong tiền bạc và nhiều vấn đề khác nên thường xuyên cãi vả nhau, đời sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Vợ chồng cũng đã cho nhau nhiều cơ hội để hàn gắn nhưng không có kết quả. Vợ chồng ly thân từ tháng 10 năm 2019 cho đến nay. Hiện tại, bà và ông T cũng không còn sống chung nhà, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, hôn nhân không thể hàn gắn được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Phan Minh T.

Về con chung: Bà và ông T không có con chung.

Về tài sản chung và nợ chung không có.

Đối với bị đơn ông Phan Minh T: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông T. Ông T không có ý kiến phản hồi về yêu cầu khởi kiện của bà H và cũng không đến Tòa án giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Bà Lê Thị Thu H và ông Phan Minh T có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã L, huyện C cấp giấy chứng nhận kết hôn số số 47/2016, ngày 03/8/2016 nên hôn nhân là hợp pháp.

[1.2] Ông Phan Minh T là bị đơn, hiện nay có hộ khẩu thường trú tại xã L, huyện C nên khi bà H có đơn khởi kiện ly hôn, Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Long An căn cứ vào Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 để thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm.

Bị đơn ông Phan Minh T được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do và vắng mặt toàn bộ quá trình giải quyết vụ án nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại Điều 207, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Xét yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Thu H:

Về quan hệ hôn nhân: Bà H nộp đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông T, theo bà H nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng ý kiến trong tiền bạc và nhiều vấn đề nên thường xuyên cãi vả nhau. Vợ chồng đã nhiều lần hàn gắn nhưng không có kết quả. Vợ chồng ly thân từ tháng 10 năm 2019 cho đến nay. Hiện tại, bà H và ông T cũng không còn sống chung nhà, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Về phía ông T thì Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng cho ông T, nhưng ông T không đến Tòa án tham gia hòa giải, không trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà H, không đưa ra phương án đoàn tụ. Qua đó, có đủ cơ sở xác định mục đích hôn nhân giữa bà H và bà ông T không đạt được, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài, hôn nhân lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị Thu H là có căn cứ được chấp nhận.

Về con chung, về tài sản chung và nợ chung bà H đều xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này có phát sinh tranh chấp thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ án khác.

Về án phí sơ thẩm: Bà Lê Thị Thu H phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Về quyền, thời hạn kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 207, Điều 227, Điều 228, Điều 273, Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Điều 26, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của nguyên đơn bà Lê Thị Thu H đối với bị đơn ông Phan Minh T.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Thu H được ly hôn với ông Phan Minh T.

Về án phí sơ thẩm: Bà Lê Thị Thu H phải chịu 300.000đồng án phí Hôn nhân và gia đình nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí bà H đã nộp 300.000đồng theo biên lai thu số 0010229 ngày 14/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Long An, bà H đã nộp đủ.

Về quyền kháng cáo: Bà Lê Thị Thu H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; ông Phan Minh T vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định của Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ