- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn Lương Thị Loan - Ngân Văn Tiến"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: khoản 1 điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 207; 227; 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 89/2023/ST - HNGĐ Ngày 29/6/2023. V/v Tranh chấp Hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG - TỈNH NGHỆ AN
Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Bảo.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Thế Hiền, ông Lương Văn Giang.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Lê - Thư ký Toà án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 6 năm 2023, tại nhà văn hóa khối 1 thị trấn Con Cuông huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 31/2023/TLST
- HNGĐ ngày 06/3/2023 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2023/QĐXX – ST ngày 10 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Lương Thị L, sinh năm 1982
Địa chỉ: Bản C, xã M, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.
Bị đơn: Anh Ngân Văn T, sinh năm 1981
Địa chỉ: Bản C, xã M, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An. Hiện đang chấp hành biện pháp giáo dục bắt buộc tại Cơ sở giáo dục Thanh Hà, thị trấn Gia Khánh, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc. Chị L có mặt, anh T vắng mặt có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện của nguyên đơn, lời trình bày tại Tòa án và tại phiên tòa chị Lương Thị L trình bày: Chị với anh Ngân Văn T kết hôn với nhau vào ngày 17/7/2002 tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An trên cơ sở tự nguyện. Vợ chồng chị chung sống hạnh phúc được một thời gian, đến đầu năm 2015 thì xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do tính cách, quan điểm sống không phù hợp, anh T không chịu khó làm ăn, thường xuyên uống rượu say về đánh đập vợ, con. Mặc dù đã được chị khuyên nhủ nhiều lần nhưng anh T không thay đổi. Mâu thuẫn đã được hai bên gia đình cũng như chính quyền địa phương hòa giải nhưng không có kết quả. Do thường xuyên uống rượu say về đanh đập vợ, con và phá đồ đạc trong nhà nên tháng 5 năm 2022 anh Tiến bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc. Hiện nay anh T đang chấp hành biện pháp giáo dục bắt buộc tại Cơ sở giáo dục T, thị trấn Gia Khánh, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng thực sự không còn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh Ngân Văn T.
Về con chung: Chị và anh Ngân Văn T có 02 người con chung là:
1- Ngân Thị T, sinh ngày 20/11/2002
2- Ngân Trung N, sinh ngày 15/02/2009.
Nay cháu T đã đủ tuổi trưởng thành, sau khi ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi cháu N và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Hiện nay chị và anh T không nợ một tổ chức hay cá nhân nào.
Anh Ngân Văn T đang chấp hành biện pháp giáo dục bắt buộc tại Cơ sở giáo dục Thanh Hà, thị trấn Gia Khánh, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc. Quá trình thu thập chứng cứ anh T cho biết việc anh và chị L kết hôn, con chung, nguyên nhân mâu thuẫn, tài sản chung và nợ như chị L trình bày là đúng. Tuy nhiên anh thấy tình cảm giữa anh và chị L vẫn còn nên anh không đồng ý ly hôn. Về tài sản chung và nợ anh Tiến không yêu cầu giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của pháp luật.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án: Áp dụng: khoản 1 điều 51, khoản 1 Điều 56; Các Điều 58; 81; 82; 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xử cho chị Lương Thị L được ly hôn anh Ngân Văn T, giao con chung cho chị Lương Thị L nuôi dưỡng, chị Loan phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình, bị đơn có địa chỉ tại huyện Con Cuông nên Tòa án nhân dân huyện Con Cuông thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Ngân Văn T hiện đang chấp hành biện pháp giáo dục bắt buộc tại Cơ sở giáo dục Thanh Hà, thị trấn Gia Khánh, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc nên Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh T là đúng với quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Cuộc hôn nhân giữa chị Lương Thị L và anh Ngân Văn T có đăng ký kết hôn tại UBND xã M, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An trên cơ sở tự nguyên là hôn nhân hợp pháp, quá trình chung sống do các bên không biết yêu thương, tôn trọng lấn nhau, anh T không chịu khó làm ăn, thường xuyên uống rượu say về đánh đập vợ, con hiện đang bị áp dụng biệp pháp giáo dục bắt buộc. Quá trình lấy lời khai anh T cho rằng tình cảm gữa anh và chị L vẫn còn. Tuy nhiên trong quá trình giải quyết cũng như qua xác minh tại địa phương cho thấy vợ chồng chị L và anh T thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Xét tình cảm vợ chồng giữa chị Lương Thị L và anh Ngân Văn T thật sự không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lương Thị L là có căn cứ.
Về con chung: Chị Lương Thị L và anh Ngân Văn T có 02 người con chung là Ngân Thị T, sinh ngày 20/11/2002 và Ngân Trung N, sinh ngày 15/02/2009. Nay cháu T đã đủ tuổi trưởng thành việc ở với ai tùy cháu lựa chọn, chị L có nguyện vọng được nuôi cả hai con cho đến khi các con đủ tuổi, trưởng thành. Quá trình giải quyết anh Tiến cho rằng việc con chung ở với ai tùy các con lựa chọn. Để đảm bảo cuộc sống tốt nhất cho cháu N, Hội đồng xét xử thấy rằng cần giao cháu N cho chị L trực tiếp nuôi dưỡng là hợp lý .
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lương Thị L không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.
Về tài sản chung: Chị Lương Thị L và anh Ngân Văn T không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét.
Về án phí: Chị Lương Thị L phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: khoản 1 điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 207; 227; 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Lương Thị L ly hôn anh Ngân Văn T.
Về con chung: Giao cháu Ngân Trung N, sinh ngày 15/02/2009 cho chị Lương Thị L nuôi dưỡng cho đến lúc cháu N đủ 18 tuổi, trưởng thành. Anh Ngân Văn T có quyền thăm non, chăm sóc con chung không ai được cản trở, vì lợi ích mọi mặt của con, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi cấp dưỡng nuôi con hoặc người trực tiếp nuôi con.
Về án phí: áp dụng điều 147 BLTTDS; điểm a, khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Chị Lương Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị Loan đã nộp 300.000 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An theo biên lai thu tiền số 0000756 ngày 06/3/2023. Chị L đã nộp đủ án phí ly hôn.
Nguyên đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh NA; - VKSND tỉnh NA; - VKSND huyện Con Cuông; - Chi cục THADS huyện Con Cuông; - Nguyên đơn, bị đơn; - UBND xã M; - Lưu hồ sơ -VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trần Văn Bảo |