- Tranh chấp gì? án hình sự — "Thào A C - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Căn cứ điểm h khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 89/2023/HS-ST Ngày 09-6-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Quản Thị Dung;
Bà Bùi Thị Đào.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Đức - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Bà Lò Thị Hồng Thắm - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 96/2023/TLST-HS ngày 11 tháng 5 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 96/2023/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:
Thào A C, sinh ngày 18/01/1986 tại huyện M, tỉnh Sơn La. Nơi cư trú: Bản H1, xã P, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 0/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đảng phái, đoàn thể: Không; con ông Thào Sáy C1 và bà Hàng Thị S; có vợ là Mùa Thị V và 07 con (con lớn nhất sinh năm 2005, con nhỏ nhất sinh năm 2017); tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/10/2022 cho đến nay. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Trần Bích L, Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Sơn La. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Anh Thào A D, sinh năm 1983. Nơi cư trú: Bản H1, xã P, huyện M, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
+ Chị Mùa Thị V, sinh năm 1988. Nơi cư trú: Bản H1, xã P, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt.
- Người phiên dịch: Ông Giàng Xuân H, sinh năm 2004. Nơi cư trú: T, xã C2, huyện M, tỉnh Sơn La. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 09 giờ 55 phút ngày 12/10/2022, Tổ công tác Công an huyện M, tỉnh Sơn La làm nhiệm vụ tại khu vực bản H1, xã P, huyện M, tỉnh Sơn La phát hiện, bắt quả tang Thào A D, sinh năm 1983, trú tại: Bản H1, xã P, huyện M, tỉnh Sơn La, đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy tại nhà ở của Thào A C. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Thào A D. Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói chất bột nén màu trắng, nghi là Heroine; 01 mảnh giấy bạc; 01 chiếc bật lửa ga màu đỏ.
Mở rộng điều tra, cùng ngày 12/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và khám xét khẩn cấp chỗ ở của Thào A C tại bản H1, xã P, huyện M, tỉnh Sơn La. Khi tiến hành khám xét đã thu giữ: 03 gói chất bột nén màu trắng, nghi là Heroine; 02 túi nilon màu xanh bên trong chứa các viên nén màu hồng, nghi là ma túy tổng hợp; số tiền 1.890.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động; 01 chiếc điếu tự chế. Ngoài ra, Thào A C còn tự nguyện giao nộp 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 26B1-174.10.
Hồi 18 giờ 05 phút ngày 12/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M tiến hành lập Biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng, lấy mẫu trưng cầu giám định chất ma túy đối với số vật chứng thu giữ, kết quả:
Chất bột nén màu trắng bên trong gói vật chứng thu giữ khi bắt người phạm tội quả tang đối với Thào A D có khối lượng 0,02 gam, lấy toàn bộ làm mẫu trưng cầu giám định chất ma túy, ký hiệu M1.
Đối với vật chứng thu giữ khi khám xét khẩn cấp chỗ ở của Thào A C:
- Chất bột nén màu trắng bên trong 03 gói vật chứng thu giữ có tổng khối lượng 19,83 gam, lấy toàn bộ 0,31 gam trong gói nilon màu trắng, ký hiệu M2; 0,04 gam trong gói nilon màu hồng, ký hiệu M3; trích lấy 0,22 gam trong gói gồm 02 lớp nilon màu trắng, ký hiệu M4, tổng là 0,57 gam làm mẫu trưng cầu giám định chất ma túy;
- Bên trong 02 túi nilon màu xanh chứa tổng cộng 277 viên nén màu hồng có tổng khối lượng 26,86 gam, trích lấy trong mỗi túi 03 viên, tổng là 06 viên có khối lượng 0,56 gam ký hiệu M5, M6 làm mẫu trưng cầu giám định chất ma túy.
Tại Kết luận giám định số 1645/KL-KTHS ngày 19/10/2022 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận:
“- Các mẫu gửi giám định ký hiệu từ M1 đến M4 đều là ma túy; loại Heroine; tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,59 gam.
- Các mẫu gửi giám định ký hiệu M5, M6 đều là ma túy; loại Methamphetamine; tổng khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,56 gam.
- Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 19,85 gam; loại Heroine và 26,86 gam; loại Methamphetamine”.
Tại Kết luận giám định số 1658/KL-KTHS ngày 24/10/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận số tiền 1.890.000 đồng gửi giám định là tiền thật.
Quá trình điều tra, Thào A C khai nhận:
Vào khoảng đầu tháng 10/2022, Thào A C mang theo 10.000.000 đồng điều khiển xe máy biển kiểm soát 26B1-174.10 đi từ nhà ở bản H1, xã P, huyện M, tỉnh Sơn La đến xã M1, huyện S1, tỉnh Sơn La tìm mua trâu. Khi đi đến bản B, xã M1, huyện S1, C gặp một người đàn ông dân tộc Mông không quen biết, tự giới thiệu nhà ở bên Lào, C hỏi mua trâu thì người đàn ông nói không có và hỏi C có mua “hàng” không, đồng thời lấy từ trong túi quần ra 01 gói nilon màu trắng bên trong chứa Heroine và 02 túi hồng phiến. C đồng ý, hai bên thống nhất toàn bộ số ma túy có giá 3.000.000 đồng. Trao đổi mua bán ma túy xong, người đàn ông đi đâu C không biết, còn C cất giấu ma túy vào túi quần bên trái rồi tiếp tục đi tìm mua trâu nhưng không mua được nên đi về.
Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, sau khi về đến nhà, C đi vào giường ngủ mở gói ma túy mua được ra lấy một phần Heroine và 02 viên hồng phiến sử dụng cho bản thân bằng cách đốt hít qua điếu tự chế bằng chai nhựa và qua giấy bạc. Sử dụng ma túy xong, C dùng một mảnh giấy trắng có in hình, chữ màu xanh màu hồng gói 01 túi hồng phiến (túi nilon vỏ màu xanh, loại có díp khóa viền màu đỏ) rồi cất giấu vào khoảng trống giữa bạt vải và vách tường ở đầu giường ngủ của C; 01 túi hồng phiến còn lại (túi nilon vỏ màu xanh, loại có díp khóa viền màu đỏ) thì C dùng giấy trắng gói lại và quấn băng dính đen bên ngoài rồi cất giấu trên nóc tủ ở cạnh giường ngủ của C. Đối với số Heroine thì C gói bằng 02 mảnh nilon màu trắng ban đầu rồi cất giấu vào trong ống tre ở xà mái nhà khu vực giường ngủ của C nhằm mục đích sử dụng dần cho bản thân và có ai hỏi mua sẽ bán kiếm lời.
Từ ngày mua được ma túy đến ngày 11/10/2022, C đã nhiều lần lấy Heroine cất giấu trong ống tre và hồng phiến trong túi hồng phiến cất giấu ở vách tường ra sử dụng. Ngoài ra, C còn bán cho người đàn ông tên K1 01 gói Heroine với giá 500.000 đồng (C không nhớ ngày bán và không biết họ tên đầy đủ, địa chỉ cụ thể của K1).
Đến khoảng 09 giờ ngày 12/10/2022, C đang ở nhà thì có Thào A D là chú của C ở cùng bản đến hỏi xin ma túy để sử dụng. C đồng ý và bảo D đi cắt cỏ trâu cho C, C sẽ cho D một ít ma túy để sử dụng. Sau khi D đi thì C lấy từ gói Heroine cất giấu ở xà nhà ra một phần Heroine và lấy 02 viên hồng phiến từ túi hồng phiến cất giấu ở vách tường ra để tại giường ngủ của C, rồi cất giấu gói Heroine và túi hồng phiến vào vị trí ban đầu. Sau đó, C bẻ lấy nửa viên hồng phiến và một phần Heroine được gói trong mảnh nilon màu xanh để cho D, số hồng phiến còn lại C đã sử dụng hết, số Heroine còn lại C dùng mảnh nilon màu trắng gói một phần lại thành một gói, phần còn lại C để trên tờ tiền mệnh giá 50.000 VNĐ (số Heroine trên tờ tiền sau đó được Tổ công tác Công an huyện M gói lại bằng mảnh nilon màu hồng khi tiến hành khám xét chỗ ở của C). Khoảng 30 phút sau D cắt cỏ mang về rồi vào giường gặp C, C lấy một nửa viên hồng phiến và Heroine đã chuẩn bị đưa cho D rồi tiếp tục nằm trên giường ngủ. D cầm số ma túy đi ra khu vực bếp nhà C sử dụng hết số hồng phiến, còn Heroine D dùng giấy bạc gói lại cầm ở tay trái để đi về thì bị Tổ công tác Công an huyện M phát hiện, bắt quả tang cùng vật chứng thu giữ như đã nêu ở trên.
Về nguồn gốc 19,85 gam ma túy, loại Heroine và 26,86 gam ma túy, loại Methamphetamine thu giữ trong vụ án: Thào A C khai mua của người đàn ông dân tộc Mông Lào, C không biết họ tên và địa chỉ của người này.
Do có hành vi nêu trên, tại Cáo trạng số 50/CTr-VKS-P1 ngày 05/5/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố Thào A C về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa sơ thẩm:
Bị cáo Thào A C thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng truy tố; bị cáo xác định không sử dụng chiếc điện thoại bị thu giữ để liên lạc trao đổi việc mua bán ma túy; số tiền 1.890.000 đồng bị thu giữ do bị cáo lao động mà có. Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 26B1-174.10, bị cáo xác định đây là tài sản chung của gia đình, bị cáo mua lại của anh Cà Văn N, sinh năm 1994, trú tại: Bản K, xã C3, huyện S1, tỉnh Sơn La với giá 4.000.000 đồng; bị cáo xác nhận có sử dụng xe để đi mua ma túy nhưng vợ bị cáo không biết việc này và không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Mùa Thị V xác định chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 26B1-174.10 là tài sản chung của gia đình chị; chị không biết việc Thào A C sử dụng xe làm phương tiện để đi mua ma túy; chị không liên quan đến hành vi phạm tội của Thào A C và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại chiếc xe máy nêu trên cho gia đình chị sử dụng.
* Tranh luận tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La trình bày luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Thào A C phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Thào A C từ 15 năm 06 tháng đến 16 năm 06 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Về vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau khi lấy mẫu trưng cầu giám định chất ma túy và vỏ gói niêm phong ban đầu; 01 chiếc bật lửa ga; 01 mảnh giấy bạc; 01 chiếc điếu tự chế.
Trả lại cho bị cáo Thào A C 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu MASSTEL và số tiền 1.890.000 đồng.
Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Mùa Thị V 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 26B1-174.10.
Về án phí: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Người bào chữa cho bị cáo Thào A C trình bày lời bào chữa nhất trí với cáo trạng truy tố và luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa. Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình đông con, thuộc diện hộ nghèo; bị cáo không biết chữ nên nhận thức, hiểu biết pháp luật phần nào còn hạn chế; bị cáo phạm tội lần đầu, quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm h khoản 3 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức hình phạt thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng và không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo; trả lại cho bị cáo chiếc điện thoại di động và số tiền bị thu giữ; trả lại cho gia đình bị cáo chiếc xe máy bị thu giữ và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo Thào A C nhất trí với quan điểm của người bào chữa, không có ý kiến tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Mùa Thị V không có ý kiến tranh luận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về việc xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Thào A D: Xét thấy anh Thào A D đã được Tòa án triệu tập hợp lệ và đã có lời khai trong hồ sơ vụ án; sự vắng mặt của anh Thào A D không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh Thào A D theo quy định tại khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về hành vi phạm tội của bị cáo
Ngày 12/10/2022, tại nhà của Thào A C ở bản H1, xã P, huyện M, tỉnh Sơn La, Thào A D bị Tổ công tác Công an huyện M phát hiện, bắt quả tang khi đang có hành vi tàng trữ 0,02 gam Heroine để sử dụng. Mở rộng điều tra, cùng ngày 12/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Thào A C thu giữ 19,85 gam ma túy, loại Heroine và 26,86 gam ma túy, loại Methamphetamine, C cất giữ mục đích để sử dụng và bán kiếm lời.
Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau:
- Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Tổ công tác Công an huyện M, tỉnh Sơn La lập hồi 10 giờ ngày 12/10/2022 tại bản H1, xã P, huyện M, tỉnh Sơn La đối với Thào A D cùng vật chứng thu giữ là 01 gói chất bột nén màu trắng, nghi là Heroine.
- Biên bản khám xét do Tổ công tác Công an huyện M, tỉnh Sơn La lập hồi 11 giờ 15 phút ngày 12/10/2022 đối với chỗ ở của Thào A C tại bản H1, xã P, huyện M, tỉnh Sơn La cùng vật chứng thu giữ là 03 gói chất bột nén màu trắng, nghi là Heroine; 02 túi nilon màu xanh bên trong chứa các viên nén màu hồng, nghi là ma túy tổng hợp.
- Biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng lập hồi 18 giờ 05 phút ngày 12/10/2022 tại Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La xác định:
+ Chất bột nén màu trắng bên trong gói vật chứng thu giữ khi bắt người phạm tội quả tang đối với Thào A D có khối lượng 0,02 gam;
+ Đối với vật chứng thu giữ khi khám xét khẩn cấp chỗ ở của Thào A C: Chất bột nén màu trắng bên trong 03 gói vật chứng thu giữ có tổng khối lượng 19,83 gam; bên trong 02 túi nilon màu xanh chứa tổng cộng 277 viên nén màu hồng có tổng khối lượng 26,86 gam.
- Kết luận giám định số 1645/KLMT ngày 19/10/2022 của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 19,85 gam; loại Heroine và 26,86 gam; loại Methamphetamine”.
- Lời khai nhận tội của bị cáo Thào A C tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của Thào A D là người được Thào A C cho ma túy để sử dụng; phù hợp với khối lượng ma túy thu giữ trong quá trình bắt người phạm tội quả tang đối với Thào A D và khối lượng ma túy thu giữ khi tiến hành khám xét khẩn cấp đối với chỗ ở của Thào A C; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa.
Với các căn cứ chứng minh trên có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Thào A C đã phạm vào tội Mua bán trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La truy tố đối với bị cáo là có căn cứ.
Về tình tiết định khung hình phạt
Bị cáo Thào A C là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội với tổng khối lượng 02 chất ma túy mua bán là 46,71 gam (gồm 19,85 gam ma túy, loại Heroine và 26,86 gam ma túy, loại Methamphetamine), đã vi phạm tình tiết định khung hình phạt “Có 02 chất ma túy trở lên…” quy định tại điểm h khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự, có mức hình phạt tù từ 15 năm đến 20 năm.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo
Hành vi phạm tội của bị cáo Thào A C thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy; là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương nên cần có mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo mới bảo đảm biện pháp cải tạo, giáo dục riêng và răn đe, phòng ngừa chung, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, nhất là các tội phạm về ma túy trong giai đoạn hiện nay.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Bị cáo Thào A C có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung
Ngoài hình phạt chính, bị cáo Thào A C còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự nhưng xét bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
Về các đối tượng có liên quan
Đối với người đàn ông dân tộc Mông, nhà ở bên Lào, Thào A C khai là người đã bán ma túy cho bị cáo: Kết quả điều tra xác định C không biết họ tên, địa chỉ và thông tin gì khác về người đàn ông này. Ngoài lời khai của C thì không còn nguồn tài liệu, chứng cứ nào khác nên Cơ quan điều tra xác định không có căn cứ để tiếp tục xác minh, điều tra là đúng quy định.
Đối với Thào A D là người bị bắt quả tang tại nhà ở của Thào A C vào ngày 12/10/2022: Kết quả điều tra xác định ngày 12/10/2022, D được C cho 0,02 gam Heroine và nửa viên hồng phiến. Số hồng phiến D đã sử dụng hết, còn 0,02 gam Heroine D cất giữ để sử dụng dần. D chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự hoặc đã bị kết án về một trong các tội quy định tại các Điều 248, 249, 250, 251 và 252 Bộ luật Hình sự, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm nên hành vi của D chưa cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự. Công an huyện M ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 14176/QĐ-XPHC ngày 10/11/2022 đối với Thào A D về hành vi cất giữ trái phép 0,02 gam ma túy, loại Heroine với mức phạt tiền 3.500.000 đồng là có căn cứ, đúng pháp luật.
Đối với người đàn ông tên K1, Thào A C khai là người đã mua 01 gói Heroine với số tiền 500.000 đồng: Quá trình điều tra, C khai chỉ biết người này tên K1, khoảng 35-40 tuổi, dân tộc Thái, nhà ở xã C4, huyện M, tỉnh Sơn La; C không biết họ tên đầy đủ, địa chỉ và thông tin gì khác về người đàn ông này. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại địa bàn xã C4, huyện M, tỉnh Sơn La không có người nào tên K1 có đặc điểm như lời khai của C. Ngoài lời khai của C thì không còn nguồn tài liệu, chứng cứ nào khác nên Cơ quan điều tra xác định không có căn cứ để tiếp tục điều tra làm rõ là đúng quy định.
Về vật chứng
- Đối với 19,26 gam ma túy, loại Heroine và 26,3 gam ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau khi lấy mẫu trưng cầu giám định và vỏ gói niêm phong ban đầu; 01 chiếc bật lửa ga, 01 mảnh giấy bạc (thu giữ của Thào A D); 01 chiếc điếu tự chế (thu giữ của Thào A C): Xét đây là loại hàng Nhà nước cấm lưu hành và vật chứng không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 chiếc điện thoại di động và số tiền 1.890.000 đồng thu giữ của Thào A C: Xét đây là tài sản cá nhân, không liên quan đến vụ án nên cần trả lại cho bị cáo.
- Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 26B1-174.10: Kết quả điều tra xác định đây là tài sản chung của gia đình bị cáo Thào A C, do bị cáo mua lại của anh Cà Văn N, sinh năm 1994, trú tại: Bản K, xã C3, huyện S1, tỉnh Sơn La với giá 4.000.000 đồng; chị Mùa Thị V (vợ bị cáo) không biết việc bị cáo sử dụng xe để đi mua ma túy; chị V không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, việc chị V đề nghị Hội đồng xét xử xem xét trả lại chiếc xe máy nêu trên cho gia đình sử dụng là có căn cứ, cần chấp nhận.
Về án phí
Bị cáo Thào A C là người dân tộc thiểu số, sống ở xã có điều kiện kinh tế
- xã hội đặc biệt khó khăn và gia đình thuộc diện hộ nghèo nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm h khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Thào A C phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Thào A C 15 (mười lăm) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 12/10/2022.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
2.1. Tịch thu tiêu hủy:
- 19,26 gam ma túy, loại Heroine và 26,3 gam ma túy, loại Methamphetamine; 02 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu; các túi nilon, mảnh nilon gói ma túy ban đầu được niêm phong trong một chiếc phong bì do Công an huyện M phát hành, còn nguyên niêm phong.
- 01 (một) chiếc bật lửa ga và 01 (một) mảnh giấy bạc được niêm phong trong một chiếc phong bì do Công an huyện M phát hành, còn nguyên niêm phong (thu giữ của Thào A D).
- 01 (một) chiếc điếu tự chế bằng chai nhựa màu trắng, thân chai có gắn ống hút bằng gỗ, đã qua sử dụng (thu giữ của Thào A C).
2.2. Trả lại cho bị cáo Thào A C 01 (một) chiếc điện thoại nhãn hiệu MASSTEL vỏ màu xanh, viền màu đen, điện thoại bàn phím bấm, 02 imei có 04 số cuối: Imei 1 2302; imei 2 9436 kèm 01 sim trong điện thoại, đã qua sử dụng.
2.3. Đối với vật chứng niêm phong trong 01 (một) chiếc phong bì do Công an tỉnh Sơn La phát hành (khoản 06 Biên bản giao nhận vật chứng), xử lý như sau:
- Trả lại cho bị cáo Thào A C số tiền 1.890.000 đồng (một triệu tám trăm chín mươi nghìn đồng).
- Tịch thu tiêu hủy vỏ phong bì cũ gửi giám định.
2.4. Trả lại cho chị Mùa Thị V 01 (một) chiếc xe mô tô hai bánh nhãn hiệu HONDA, loại xe WAVE RSX, màu sơn xanh, xe có biển kiểm soát 26B1-174.10, số khung 275072, số máy 6206849, xe không có gương chiếu hậu, không có chìa khóa xe, không có ắc quy, yên xe bị bong và rách nhiều chỗ, thân xe trầy xước nhiều chỗ, đã qua sử dụng.
(Theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập hồi 16 giờ 30 phút ngày 18/4/2023 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Sơn La và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Sơn La)
3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Thào A C.
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 09/6/2023). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Sơn La; - Cục THADS tỉnh Sơn La; - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - Phòng PC04 Công an tỉnh Sơn La; - Trại tạm giam Công an tỉnh Sơn La; - Cơ quan hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Sơn La; - Những người tham gia tố tụng; - Phòng KTNV&THA; - Tổ Hành chính tư pháp; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Minh Hải |