vanban.org

Bản án 89/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang Tuyên án 25/10/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo K phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo K 05 (năm) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/5/2023. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo K phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ CAI LẬY
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 89/2023/HS-ST
Ngày: 25/10/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY-TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Thoa.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Huỳnh Ngọc Trứ

Bà Đặng Thị Tiềm

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Tín – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Võ Thành Đạt – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 10 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 79/2023/TLST- HS ngày 02 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2023/QĐXXST- HS ngày 10 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:

K, sinh ngày 21 tháng 11 năm 1996 tại tỉnh Bến Tre. Nơi cư trú: ấp CC, xã MT, huyện GT, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con bà M, sinh năm 1961; anh chị em ruột có 02 người, bị can là con nhỏ nhất trong gia đình; vợ V, sinh năm 1998, có 01 con sinh năm 2022, tiền án: không, tiền sự: không; bị tạm giữ ngày 05/5/2023, chuyển tạm giam ngày 10/5/2023 (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

K, sinh năm 1996, nơi thường trú: C, xã MT, huyện GT, tỉnh Bến Tre là người nghiện ma túy. Khoảng 17 giờ ngày 05/5/2023, Kiệt điều khiển xe mô tô loại Winner, biển số 71B3-878.26 từ nhà qua cầu Rạch Miễu đến thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang mua 01 gói ma túy giá 500.000 đồng của một người tên A (không rõ nhân thân, lai lịch) mục đích để sử dụng. Sau khi mua được ma túy, K cất gói ma túy trong túi áo khoác đang mặc, điều khiển xe mô tô trên Quốc lộ 1 hướng Mỹ Tho đi MT. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, K chạy qua cầu Cai Lậy một đoạn thì cho xe quay đầu lại tìm khách sạn để sử dụng số ma túy mới mua. Cùng lúc ngày, K phát hiện lực lượng Công an đang tuần tra nên K điều khiển xe mô tô rẽ vào đoạn đường đan dân sinh thuộc khu phố 2, phường 2, thị xã Cai Lậy thì bị Tổ tuần tra phòng chống tội phạm về hình sự - ma túy Công an thị xã Cai Lậy chặn dừng, kiểm tra nên K ném 01 gói ma túy vào khu mộ của phần đất hộ ông T, sinh năm 1962, nơi thường trú: khu phố 02, phường 2, thị xã Cai Lậy. Sau đó, Tổ tuần tra phòng chống tội phạm về hình sự - ma túy Công an thị xã Cai Lậy đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Kiệt, cùng vật chứng vụ án.

Vật chứng thu giữ gồm:

- 01 (một) túi nylon (loại túi zip), viền đỏ bên trong có nhiều viên nén màu vàng và tinh thể màu trắng, bên ngoài quấn giấy màu trắng dán băng keo màu đen, nghi là ma túy.

- 01 (một) xe mô tô loại Winner biển số 71B3-878.26 của K.

Kết luận giám định số 81/KL-KTHS ngày 08/5/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang kết luận: 11 viên nén màu vàng, mẫu chất bột màu vàng và các mẫu tinh thể màu trắng gửi giám định đều là túy, có tổng khối lượng 13,0366 gam, (trong đó: Mẫu ký hiệu M1 có khối lượng 4,0573 gam, loại MDMA; mẫu ký hiệu M2 có khối lượng 0,2800 gam, loại MDMA; mẫu M3 có khối lượng 2,1915 gam, loại Ketamine; mẫu ký hiệu M4 có khối lượng 2,1503 gam, loại Ketamine, mẫu ký hiệu M5 có khối lượng 2,1733 gam, loại Ketamine, mẫu ký hiệu M6 có khối lượng 2,1842 gam, loại Ketamine.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 5 Nghị định 19/2018/NĐ-CP ngày 02/02/2018 của Chính phủ quy định về việc tính tổng khối lượng hoặc thể tích chất ma túy tại một số điều của Bộ luật hình sự 2015: Tỷ lệ phần trăm về khối lượng của 02 chất MDMA và Ketamine là 130,23 %, vì tổng tỷ lệ phần trăm về khối lượng của 02 chất ma túy so với mức tối thiểu đối với từng chất đó được quy định tại khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là trên 100 %, nên so với mức tối thiểu đối với từng chất được quy định tại khoản 3 Điều 249, tổng khối lượng của hai chất MDMA và Ketamine là 23,14 % không thuộc trường hợp theo quy định tại điểm h khoản 3 Điều 249 mà thuộc trường hợp theo quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Kết luận giám định số 3210/KL-KTHS ngày 06/6/2023 của Phân viện Khoa học Hình sự - Bộ Công an tại thành phố Hồ Chí Minh: không phát hiện thấy AND trên mảnh giấy màu trắng có dán băng keo màu đen và 05 túi nylon gửi giám định. Lưu kiểu gen của K tại Phân viện Khoa học Hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh.

Kết luận giám định số 3210/1/KL-KTHS ngày 09/6/2023 của Phân viện Khoa học Hình sự - Bộ Công an tại thành phố Hồ Chí Minh: không phát hiện dấu vết đường vân trên các mẫu vật gửi giám định, thu được trong vụ bắt quả tang K, sinh năm 1996, nơi thường trú: ấp C, xã MT, huyện GT, tỉnh Bến Tre phạm tội về ma túy xảy ra tại khu phố 2, phường 2, thị xã Cai Lậy ngày 05/5/2023.

Tại bản cáo trạng số 82/CT-VKSTXCL ngày 02/10/2023 Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo K về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo K đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo không khiếu nại các quyết định cũng như hành vi của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát thị xã Cai Lậy, điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đối với vụ án.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi phạm tội của bị cáo K đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; điểm n khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo K từ 05 (năm) năm đến 06 (sáu) năm tù. Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu, tiêu hủy 01 (một) mảnh giấy màu trắng dán băng keo màu đen và 05 (năm) túi nylon màu trắng có viền màu đỏ (loại túi zip); 01 (một) bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 81/1 ghi ngày 08 tháng 5 năm 2023, có các chữ ký in họ tên: G (Giám định viên), P (Trợ lý giám định viên), chữ ký in họ tên: R (Bên nhận) và hình dấu tròn đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG. Bên trong có: 01 (một) gói nylon màu trắng được dán kín (kí hiệu M1) chứa 3,0304 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại MDMA (mẫu ký hiệu M1); 01 (một) gói nylon màu trắng được dán kín (kí hiệu M2) chứa 0,1314 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại MDMA (mẫu ký hiệu M2); 01 (một) gói nylon màu trắng được dán kín (kí hiệu M3) chứa 2,0414 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Ketamine (mẫu ký hiệu M3); 01 (một) gói nylon màu trắng được dán kín (kí hiệu M4) chứa 2,0196 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Ketamine (mẫu ký hiệu M4); 01 (một) gói nylon màu trắng được dán kín (kí hiệu M5) chứa 2,0217 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại MDMA (mẫu ký hiệu M5) và 01 (một) gói nylon màu trắng được dán kín (kí hiệu M6) chứa 2,0807 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Ketamine (mẫu ký hiệu M6). Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu HONDA, loại Winner màu trắng – đen biển số 71B3-878.26, số máy: KC26E1261285, số khung: 260KY003161 là tài sản của K dùng làm phương tiện đi lại nên đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo K.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo sẽ sửa sai, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Cai Lậy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa hôm nay, lời khai của bị cáo là phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, thể hiện bị cáo K đã có hành vi cất giấu bất hợp pháp bịch nylon bên trong chứa 11 viên nén màu vàng, mẫu chất bột màu vàng và các mẫu tinh thể màu trắng được hàn kín xung quanh, qua giám định đã được kết luận là ma túy, có tổng khối lượng 13,0366 gam, (trong đó: Mẫu ký hiệu M1 có khối lượng 4,0573 gam, loại MDMA; Mẫu ký hiệu M2 có khối lượng 0,2800 gam, loại MDMA; Mẫu ký hiệu M3 có khối lượng 2,1915 gam, loại Ketamine; Mẫu ký hiệu M4 có khối lượng 2,1503 gam, loại Ketamine; Mẫu ký hiệu M5 có khối lượng 2,1733 gam, loại Ketamine; Mẫu ký hiệu M6 có khối lượng 2,1842 gam, loại Ketamine), mục đích cất giấu để sử dụng dần. Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo K phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm, đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước đối với ma túy, Nhà nước nghiêm cấm mọi hành vi của công dân về tàng trữ, vận chuyển, mua bán, trao đổi trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo còn làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương nói riêng và của toàn xã hội nói chung. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội được pháp luật hình sự điều chỉnh, bị cáo là người có đủ khả năng nhận thức và đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do đó, cần áp dụng pháp luật hình sự để xử lý nghiêm hành vi của bị cáo để bị cáo có đủ thời gian cải tạo bản thân trở thành một công dân có ích cho xã hội và đồng thời cũng đủ răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Đối với người tên A có hành vi mua bán ma túy cho K tại cầu RM, thành phố MT, có dấu hiệu tội mua bán trái phép chất ma túy, nhưng không rõ nhân thân, lai lịch của A nên Cơ quan Cảnh sát điều tra thành phố MT tiếp tục điều tra, xử lý theo thẩm quyền.

Đối với bị cáo K có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy vào ngày 30/4/2023. Ngày 05/5/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Cai Lậy xét nghiệm dương tính với ma túy nên chuyển hồ sơ đến Công an thị xã Cai Lậy để ra Quyết định xử lý hành chính theo quy định của pháp luật.

Về vật chứng vụ án:

Xét 01 (một) mảnh giấy màu trắng dán băng keo màu đen và 05 (năm) túi nylon màu trắng có viền màu đỏ (loại túi zip); 01 (một) bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 81/1 ghi ngày 08 tháng 5 năm 2023, có các chữ ký in họ tên: Nguyễn Thanh Trường (Giám định viên), Nguyễn Quốc Phong (Trợ lý giám định viên), chữ ký in họ tên: Mai Nguyễn Quốc Trung (Bên nhận) và hình dấu tròn đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG. Bên trong có: 01 (một) gói nylon màu trắng được dán kín (kí hiệu M1) chứa 3,0304 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại MDMA (mẫu ký hiệu M1); 01 (một) gói nylon màu trắng được dán kín (kí hiệu M2) chứa 0,1314 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại MDMA (mẫu ký hiệu M2); 01 (một) gói nylon màu trắng được dán kín (kí hiệu M3) chứa 2,0414 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Ketamine (mẫu ký hiệu M3); 01 (một) gói nylon màu trắng được dán kín (kí hiệu M4) chứa 2,0196 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Ketamine (mẫu ký hiệu M4); 01 (một) gói nylon màu trắng được dán kín (kí hiệu M5) chứa 2,0217 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại MDMA (mẫu ký hiệu M5) và 01 (một) gói nylon màu trắng được dán kín (kí hiệu M6) chứa 2,0807 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Ketamine (mẫu ký hiệu M6) do vật chứng là công cụ phạm tội, vật cấm tàng trữ lưu hành, vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.

Xét, 01 (một) xe mô tô hiệu HONDA, loại Winner màu trắng – đen biển số 71B3-878.26, số máy: KC26E1261285, số khung: 260KY003161 của K là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo bị kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nên theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Xét đề nghị của phía đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang là có căn cứ và phù hợp với một phần nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận một phần đề nghị của phía đại diện Viện kiểm sát.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo K phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo K 05 (năm) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/5/2023.

2. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) mảnh giấy màu trắng dán băng keo màu đen và 05 (năm) túi nylon màu trắng có viền màu đỏ (loại túi zip); 01 (một) bì thư được niêm phong ký hiệu vụ số 81/1 ghi ngày 08 tháng 5 năm 2023, có các chữ ký in họ tên: G (Giám định viên), P (Trợ lý giám định viên), chữ ký in họ tên: R (Bên nhận) và hình dấu tròn đỏ có nội dung: PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TIỀN GIANG. Bên trong có: 01 (một) gói nylon màu trắng được dán kín (kí hiệu M1) chứa 3,0304 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại MDMA (mẫu ký hiệu M1); 01 (một) gói nylon màu trắng được dán kín (kí hiệu M2) chứa 0,1314 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại MDMA (mẫu ký hiệu M2); 01 (một) gói nylon màu trắng được dán kín (kí hiệu M3) chứa 2,0414 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Ketamine (mẫu ký hiệu M3); 01 (một) gói nylon màu trắng được dán kín (kí hiệu M4) chứa 2,0196 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Ketamine (mẫu ký hiệu M4); 01 (một) gói nylon màu trắng được dán kín (kí hiệu M5) chứa 2,0217 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại MDMA (mẫu ký hiệu M5) và 01 (một) gói nylon màu trắng được dán kín (kí hiệu M6) chứa 2,0807 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Ketamine (mẫu ký hiệu M6).

Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) xe mô tô hiệu HONDA, loại Winner màu trắng – đen biển số 71B3-878.26, số máy: KC26E1261285, số khung: 260KY003161 của K.

Các vật chứng nêu trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang quản lý (Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 16/10/2023).

3. Về án phí sơ thẩm:

Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ