vanban.org

Bản án 89/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Bến Cát, tỉnh Bình Dương Tuyên án 24/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và mức hình phạt: Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lê Văn T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 13/5/2022. Về xử lý vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn T phạm tôi "Mua bán trái phép chất ma túy" - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và mức hình phạt: Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ BẾN CÁT
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 89/2023/HS-ST
Ngày: 24-5-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Duyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Thắm.

2. Ông Lương Thanh Nhàn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hương Giang – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Thiện Đại – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 74/2023/TLST-HS ngày 14 tháng 4 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 5 năm 2023, đối với bị cáo:

Lê Văn T, sinh năm 1992 tại tỉnh Hậu Giang; hộ khẩu thường trú: Ấp T, xã T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang; địa chỉ tạm trú: Khu phố B, phường H, thị xã B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn N, sinh năm 1962 và bà Lê Thị Q, sinh năm 1963 (đã chết); bị cáo có 05 anh em, lớn nhất sinh năm 1986 (đã chết), nhỏ nhất sinh năm 1995;

Tiền án: Không.

Tiền sự: Ngày 28/9/2021 bị Ủy ban nhân dân xã T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang áp dụng biện pháp giáo dục tại xã về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã số 259/QĐ-UBND ngày 28/9/2021. Chấp hành xong ngày 28/12/2021.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/5/2022 cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Bùi Thị M, sinh năm 1972; trú tại: Thôn 7B, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

2. Ông Chảo Sành Q, sinh năm 1973; trú tại: Thôn 16, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt.

- Người làm chứng: Ông Hồ Minh H. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Văn T là đối tượng sử dụng ma túy đá (Methaphetamine). T sống tại nhà trọ không tên thuộc khu phố B, phường H, thị xã B, tỉnh Bình Dương.

Khoảng 20 giờ 45 phút ngày 13/5/2022, T đang ở nhà trọ của mình thì L (không rõ lai lịch) là người quen ngoài xã hội của T nhờ T đưa giúp ma túy cho người có tên “L2” (không rõ lai lịch) ở khu vực bên hông quán bar W, cạnh đường D, thuộc khu phố 3, phường T rồi nhận 600.000 đồng đem về, L sẽ trả công cho T 100.000 đồng và cho ma túy sử dụng. Lúc này, T biết L nhờ T bán ma túy giúp L nhưng T vẫn đồng ý. Sau đó, L đưa cho T 01 (một) gói nylon hàn kín chứa ma túy đá, 01 điện thoại di động nhãn nhiệu Samsung Galaxy A10 màu xanh và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 47D1-016.72 để liên lạc và đi giao ma túy. T bỏ gói ma túy vào vỏ gói thuốc lá hiệu Hero, cất giấu trong túi quần phía trước, bên phải T đang mặc, rồi đi đến quán bar W. Khi đến nơi, T dùng điện thoại của L đưa, gọi cho người có tên trong zalo là “L2” nhưng không được nên T đứng đợi tại đoạn đường D thuộc khu vực khu phố 3, phường T, thị xã B, Bình Dương.

Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày 13/5/2022, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy công an thị xã Bến Cát phối hợp Công an phường T tuần tra, phát hiện Lê Văn T đang ngồi trên xe môtô nhãn hiệu Honda Wawe, biển số 47D1-016.72, có biểu hiện nghi vấn nên kiểm tra hành chính thì phát hiện trong túi quần phía trước, bên phải chiếc quần T đang mặc có 01 (một) vỏ bao thuốc lá hiệu Hero, bên trong bao thuốc lá có 01 (một) gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng. T khai nhận là ma túy đá nên lực lượng Công an lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với T cùng tang vật.

Vật chứng thu giữ:

- 01 (một) gói nylon hàn kín chứa tinh thể màu trắng.

- 01 (một) xe môtô nhãn hiệu Honda Wawe, biển số 47D1-016.72, số khung: 4329BY186013, số máy: JC43E-6109950.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A10, gắn sim thuê bao số 0375697854.

Theo Bản Kết luận giám định số 299 ngày 17/5/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương, kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng (bị thu giữ), gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng: 0,3652gam.

Đối với xe môtô nhãn hiệu Honda Wawe, biển số 47D1-016.72, số khung: 4329BY186013, số máy: JC43E-6109950, qua tra cứu và xác minh:

- Biển số 47D1- 016.72 được cấp cho xe mô tô nhãn hiệu Wave RSX màu đỏ, bạc, đen, có số khung JC4329BY154128; số máy: JC43E6074118 do Bùi Thị M đứng tên đăng ký. Khoảng giữa năm 2011, M mua xe mô tô này tại cửa hàng xe ở Tp. B, tỉnh Đắk Lắk với giá 16.000.000 đồng. Đến khoảng đầu năm 2016, M bán lại xe mô tô nói trên cho một người tên H (không rõ lai lịch) ở thị xã B, tỉnh Đắk Lắk với giá 6.000.000 đồng nhưng không làm hợp đồng mua bán.

- Số khung: 4329BY186013, số máy: JC43E-6109950 được cấp cho xe mô tô nhãn hiệu Wave RSX, biển số 47P1- 012.11 do Chảo Sành Q đứng tên đăng ký. Khoảng đầu tháng 07/2011, Q mua xe mô tô nói trên tại cửa hàng xe ở Tp. B, tỉnh Đắk Lắk với giá 18.000.000 đồng. Đến khoảng đầu năm 2015, Q bán lại xe mô tô nói trên cho một người tên N (không rõ lai lịch) ở Tp. B, tỉnh Đắk Lắk với giá 8.000.000 đồng nhưng không làm hợp đồng mua bán.

Ngày 05/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát đã đăng Báo Tuổi Trẻ tìm chủ sở hữu đối với xe mô tô biển số 47D1- 016.72, số khung: 4329BY186013, số máy: JC43E-6109950.

Tại bản Cáo trạng số 97/CT-VKSBC ngày 14/4/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Lê Văn T về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát trong phần tranh luận tại phiên tòa, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lê Văn T về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Lê Văn T mức án từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù.

- Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1, khoản 3 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tuyên:

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 229/PC09 có hình dấu đỏ của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương bên trong chứa 0,3377 gam ma túy loại Methamphetamine.

+ Tịch thu, nộp vào ngân sách nhà nước: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 47D1-016.72 và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A10, gắn sim thuê bao số 0375697854.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị M và ông Chảo Sành Q vắng mặt tại phiên tòa. Theo lời khai có trong hồ sơ vụ án, bà M khai bà là người đứng tên chủ sở hữu xe mô tô xe mô tô nhãn hiệu Wave RSX màu đỏ, bạc, đen, biển số 47D1- 016.72, có số khung JC4329BY154128; số máy: JC43E6074118. Khoảng giữa năm 2011, bà mua xe mô tô này tại cửa hàng xe ở thành phố B, tỉnh Đắk Lắk với giá 16.000.000 đồng. Đến khoảng đầu năm 2016, M bán lại xe mô tô nói trên cho một người tên H (không rõ lai lịch) ở thị xã B, tỉnh Đắk Lắk với giá 6.000.000 đồng nhưng không làm hợp đồng mua bán.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Chảo Sành Q khai công là người đứng tên chủ sở hữu xe mô tô xe mô tô nhãn hiệu Wave RSX, biển số 47P1- 012.11, số khung: 4329BY186013, số máy: JC43E-6109950. Khoảng đầu tháng 07/2011, Q mua xe mô tô nói trên tại cửa hàng xe ở thành phố B, tỉnh Đắk Lắk với giá 18.000.000 đồng. Đến khoảng đầu năm 2015, Q bán lại xe cho một người tên N (không rõ lai lịch) ở thành phố B, tỉnh Đắk Lắk với giá 8.000.000 đồng nhưng không làm hợp đồng mua bán.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi đúng như nội dung Cáo trạng truy tố, có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo không có tranh luận gì với đại diện Viện Kiểm sát và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã đảm bảo thực hiện đúng và đầy đủ.

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa bị cáo Lê Văn T đã khai nhận: Vào ngày 13/5/2022 L nhờ T đem ma túy bán cho đối tượng có nick zalo tên “L2” rồi nhận 600.000 đồng mang về, tiền công là 100.000 đồng và cho ma túy để sử dụng. Vào lúc 21 giờ 30 phút cùng ngày, tại khu vực đường D thuộc khu phố 3, phường T, thị xã B, Bình Dương, bị cáo đang đi giao ma túy thì bị lực lượng Công an kiểm tra hành chính phát hiện trong túi quần bên phải của bị cáo có 0,3652 gam Methamphetamine.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

Xét bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Về nhận thức, bị cáo hoàn toàn biết ma tuý là loại độc dược gây nghiện do Nhà nước độc quyền quản lý, nghiêm cấm các hoạt động sản xuất, tàng trữ, mua bán, vận chuyển trái phép. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Bị cáo Lê Văn T biết hành vi mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình phạm tội, bất chấp hậu quả. Khối lượng chất ma túy mà bị cáo bán là 0,3652 gam ma túy loại Methamphetamine. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Ma túy là một loại chất độc gây ra tác hại rất lớn về nhiều mặt cho xã hội, làm ảnh hưởng đến sức khỏe của con người và cũng là mầm mống lan truyền căn bệnh của xã hội như HIV,... Ma túy còn là nguyên nhân dẫn đến những loại tội phạm khác.

Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Như vậy, bản Cáo trạng số 97/CT-VKSBC ngày 14/4/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Bến Cát và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo Lê Văn T về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Do đó, Hội đồng xét xử cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo nhằm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục cho bị cáo trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội và phòng ngừa chung.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát về tội danh, điều khoản, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt đối với bị cáo là phù hợp và có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đối với đối tượng tên L là người thuê bị cáo đi giao ma túy và đối tượng tên “L2” là người mua ma túy của bị cáo, hiện không rõ nhân thân, lai lịch. Kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát tiếp tục điều tra, làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 229/PC09 có hình dấu đỏ của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương bên trong chứa 0,3377 gam ma túy loại Methamphetamine là chất thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ. Nên cần tịch thu và tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển số 47D1-016.72, số khung: 4329BY186013, số máy: JC43E-6109950 theo trả lời xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ căn cứ vào biển số xe và số khung số máy cho ra kết quả 02 chủ xe khác nhau, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Bến Cát đã đăng báo Tuổi Trẻ tìm kiếm chủ sở hữu nhưng kết quả không ai đến nhận, do đó cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước theo quy định tại khoản 3 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A10, gắn sim thuê bao số 0375697854 là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước theo quy định tại khoản 3 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm c khoản 1, khoản 3 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 136, Điều 260, khoản 1 Điều 268, Điều 269 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Căn cứ khoản 1 Điều 21, khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh và mức hình phạt: Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt bị cáo Lê Văn T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 13/5/2022.

2. Về xử lý vật chứng:

- Tuyên tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 229/PC09 có chữ ký của người bị bắt Lê Văn T, chữ ký người chứng kiến Hồ Minh Hiếu, chữ lý cán bộ niêm phong Đặng Văn Việt, Đại úy Nguyễn Thành Phương – Trưởng Công an phường và dấu tròn đỏ của Công an phường T, thị xã B, tỉnh Bình Dương (kèm theo kết luận giám định số 229/KL-KTHS (MT) ngày 17/5/2022).

- Tuyên tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Wave, biển số 47D1-016.72, số máy 6109950, không kiểm tra được số khung (xe không gương, không khóa, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được); 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A10 (máy trầy xước, không kiểm tra được Model, số IMEI, tại thời điểm giao nhận máy không khởi động được) và 01 (một) sim số 0375697854 (không kiểm tra được số Seri).

(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 21/4/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương).

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Văn T phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

4. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày Tòa tuyên án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Cỡ chữ