vanban.org

Bản án 89/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 28/07/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự cho bị cáo T;

Điểm b khoản 2 Điều 251, điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự cho bị cáo H; Điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Đình T cùng đồng phạm - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự cho bị cáo T;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TÂN PHÚ
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 89/2023/HS-ST
Ngày: 28 - 7 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Lợi.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Phạm Công Gia.

2. Ông Nguyễn Minh Toàn.

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Thượng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Sơn Tùng – Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 7 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 77/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 6 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 7 năm 2023 đối với các bị cáo:

1. Vũ Đình T – sinh năm: 1990, tại Lâm Đồng; Nơi đăng ký thường trú: Thôn 2, xã HL, huyện ĐH, tỉnh Lâm Đồng; Chỗ ở: Tổ dân phố 9, thị trấn M, huyện ĐH, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: Nhân viên y tế; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Văn T2 – 1953 và bà Vũ Thị S – 1952; Vợ: Đã ly hôn; Con: Có 01 con sinh năm 2019; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/02/2023 đến nay. (có mặt)

2. Nguyễn Mạnh H – sinh năm: 2000, tại Lâm Đồng; Nơi cư trú: Tổ dân phố 10, thị trấn M, huyện ĐH, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H2 – 1972 và bà Nguyễn Thị Bích P – 1978; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 20/02/2023 đến nay. (có mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Vũ Thị S – 1952. (có mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố 9, thị trấn M, huyện ĐH, Lâm Đồng.

Người làm chứng:

- Anh Trần Văn T1 – 2000. (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp PL, xã PT, huyện TP, tỉnh Đồng Nai.

- Anh Đỗ Tuấn H1 – 2003. (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp PT, xã PT, huyện TP, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vũ Đình T và Nguyễn Mạnh H có mối quan hệ là bạn bè quen biết ngoài xã hội và là đối tượng nghiện ma túy. Loại ma túy mà T, H hay sử dụng là Ketamine và MDMA, trung bình một tuần sử dụng một lần.

Khoảng tháng 12/2022, do cần tiền tiêu xài cá nhân và để có tiền mua ma túy sử dụng nên T nảy sinh ý định mua bán trái phép chất ma túy. Thực hiện ý định trên, T điều khiển xe ô tô biển số 52X-9029 (do mẹ đẻ của T là bà Vũ Thị S đứng tên chủ sở hữu) xuống Khu công nghiệp VL thuộc quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh mua ma túy loại Ketamine, MDMD về phân lẻ bán lại cho các con nghiện.

Khoảng 22 giờ vào một ngày trong tháng 12/2022, Trần Văn T1 sử dụng số điện thoại 0962.877.192 gọi điện thoại cho Nguyễn Mạnh H qua số điện thoại 0888.826.234 đặt vấn đề nhờ H mua dùm 02 chấm ma túy khay và 02 viên thuốc lắc thì H đồng ý. Sau đó, H gọi điện thoại cho Tư qua số điện thoại 0989.808.253 thông báo có người mua ma túy thì T đồng ý bán và H gửi số điện thoại của T1 cho T. T lấy ma túy rồi điều khiển xe ô tô biển số 52X-9029 xuống xã PT, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai giao ma túy và trực tiếp lấy tiền từ T.

Tiếp đó vào khoảng 22 giờ vào một ngày trong tháng 01/2023, Trần Văn T1 và Đỗ Tuấn H1 (bạn T1) bàn bạc hùn tiền mua ma túy về sử dụng rồi T1 tiếp tục liên lạc điện thoại đặt vấn đề mua ma túy với H và H liên lạc với T để T trực tiếp bán ma túy cho T1 và lấy tiền.

Khoảng 21 giờ ngày 19/02/2023, Vũ Đình T gọi điện thoại qua ứng dụng Zalo rủ Nguyễn Mạnh H đi lên quán Bar trên thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng để chơi thì H đồng ý. Sau đó, T điều khiển xe ô tô biển số 52X-9029 đến đón H. Trên đường đi, T nhận được điện thoại của một người phụ nữ (không xác định được nhân thân, lai lịch) hỏi mua 01 hộp 10 ma túy khay và 05 viên thuốc lắc, hẹn địa điểm giao ma túy tại quán Karaoke HG thuộc khu 9, thị trấn TP, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai thì T đồng ý. Sau đó, T điều khiển xe ô tô về nhà mình lấy ma túy và đựng trong 01 vỏ bao thuốc lá hiệu Saigon bạc. Trên đường đi đến quán karaoke HG, T đưa gói thuốc lá có chứa ma túy cho H giao dùm và cho H một viên thuốc lắc để trả công thì H đồng ý.

Đến 22 giờ 20 phút ngày 19/02/2023, tại quán Karaoke HG thuộc khu 9, thị trấn TP, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai khi Nguyễn Mạnh H có hành vi tàng trữ trong gói thuốc lá Saigon bạc 05 viên nén không rõ hình màu vàng, 02 bịch nylon kích thước 04cm x 04cm bên trong chứa chất tinh thể màu trắng H khai nhận là ma túy mang đi bán cho con nghiện) và 01 viên nén không rõ hình màu vàng trong túi quần jean màu xanh bên trái của H (H khai nhận là ma túy để sử dụng) thì bị Công an huyện Tân Phú kiểm tra hành chính, phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.

Đến ngày 22/02/2023, Vũ Đình T đến Công an huyện Tân Phú đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, giao nộp 01 xe ô tô hiệu Mitsubishi loại Jolie biển số 52X-9029.

Tang vật thu giữ:

- 05 viên nén không rõ hình màu vàng nhạt và 02 gói nylon màu trắng có kích thước 04cm x 04cm bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng.

- 01 viên nén không rõ hình màu vàng nhạt.

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 màu đen.

- Số tiền 750.000đ.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Phú đã tiến hành niêm phong vật chứng nghi là ma túy và ra Quyết định trưng cầu giám định theo đúng quy định của pháp luật.

Tại Kết luận giám định số 352/KL-KTHS ngày 24/02/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận:

- Mẫu 05 viên nén màu vàng nhạt (ký hiệu M11) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 1,9298 gam, loại Methamphetamine và MDMA.

- Mẫu tinh thể màu trắng (ký hiệu M12) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 7,8165 gam, loại Ketamine.

- Mẫu 01 viên nén màu vàng nhạt (ký hiệu M2) được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 0,3834 gam, loại Methamphetamine và MDMA.

Hoàn lại đối tượng giám định: Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng: M11 = 1,5564gam, M12 = 7,7744gam, M2 = 0,3719gam. Toàn bộ đối tượng sau giám định được hoàn lại trong niêm phong số 352/KL-KTHS.

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Vũ Đình T và Nguyễn Mạnh H đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình theo đúng nội dung vụ án nêu trên.

Bản cáo trạng số 94/CT-VKSTP-ĐN ngày 07 tháng 6 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Vũ Đình T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; bị cáo Nguyễn Mạnh H về các tội “Mua bán trái phép chất ma túy" và “Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm b khoản 2 Điều 251, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú giữ quyền công tố luận tội và tranh luận; phân tích dấu hiệu phạm tội; đánh giá các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; đặc điểm nhân thân của các bị cáo. Do đó Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo T; áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo H. Đề xuất mức án đối với các bị cáo, cụ thể:

- Vũ Đình T từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù.

- Nguyễn Mạnh H: Từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung từ 08 năm đến 09 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị:

- Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì giấy niêm phong số 352/KL-KTHS bên trong đựng ma túy còn lại sau giám định.

- Tịch thu, phát mãi sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 màu đen của Nguyễn Mạnh H do sử dụng làm phương tiện liên lạc mua bán ma túy.

- Đối với số tiền 750.000đ thu giữ khi bắt quả tang là tài sản hợp pháp của Nguyễn Mạnh H, không dùng vào mục đích phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trao trả tài sản trên. Đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với 01 xe ô tô hiệu Mitsubishi loại Jolie biển số 52X-9029 và 01 Giấy đăng ký xe ô tô số 018957 của xe ô tô biển số 52X-9029 mang tên Vũ Thị S là tài sản hợp pháp của bà Vũ Thị S (mẹ đẻ của Vũ Đình T). Việc bị cáo T sử dụng xe ô tô trên đi bán ma túy thì bà S không biết và không đồng ý nên đề nghị trao trả toàn bộ tài sản trên cho bà Vũ Thị S.

Đối với Trần Văn T1, Đỗ Tuấn H1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Phú đã chuyển hồ sơ cho Ủy ban nhân dân xã Phú Trung ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Các bị cáo có lời nói sau cùng như sau: Các bị cáo biết hành vi của mình là sai trái và ăn năn hối cải. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Tân Phú, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Tại phiên tòa, các bị cáo Vũ Đình T và Nguyễn Mạnh H đã thành khẩn khai nhận tội. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử đủ cơ sở xác định:

Vào lúc 22 giờ 20 phút ngày 19/02/2023 tại quán Karaoke Hoàng Gia thuộc khu 9, thị trấn Tân Phú, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, khi Vũ Đình T, Nguyễn Mạnh H có hành vi tàng trữ trong gói thuốc Saigon bạc chứa 05 viên nén không rõ hình màu vàng là ma túy có khối lượng 1,9298gam, loại Methamphetamine và MDMA; 02 bịch nylon kích thước 04cm x 04cm bên trong chứa chất tinh thể màu trắng là ma túy, có khối lượng 7,8165gam, loại Ketamine, nhằm mục đích bán cho người khác và bản thân Nguyễn Mạnh H còn có hành vi tàng trữ 01 viên nén không rõ hình màu vàng là ma túy, có khối lượng 0,3834gam, loại Methamphetamine và MDMA trong túi quần jean màu xanh bên trái của H nhằm mục đích cất giấu sử dụng riêng cho bản thân thì bị Công an huyện Tân Phú kiểm tra hành chính, phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.

Mở rộng quá trình điều tra đã chứng minh được vào khoảng tháng 12/2022 và tháng 01/2023, tại ấp PL, xã PT, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, Vũ Đình T và Nguyễn Mạnh H đã 02 lần bán ma túy cho Trần Văn T1.

Hành vi do các bị cáo Vũ Đình T và Nguyễn Mạnh H đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, nó trực tiếp xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, trực tiếp là hoạt động mua bán, tàng trữ các chất ma túy. Các bị cáo thực hiện hành vi trên với lỗi cố ý. Bản thân các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Do đó bị cáo Vũ Đình T đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung hình phạt là “Phạm tội 02 lần trở lên”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; bị cáo Nguyễn Mạnh H đã phạm các tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung hình phạt là “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với tình tiết định khhung hình phạt “Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251, điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Trong tình hình hiện nay, ma túy đang trở thành vấn nạn của xã hội. Tình trạng mua bán, vận chuyển, tàng trữ, sử dụng trái phép chất ma túy đang diễn ra rất phức tạp, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an, an toàn xã hội, gây tác hại rất lớn đến sức khỏe nòi giống, nhân cách con người, gây thiệt hại về kinh tế của gia đình cũng như xã hội. Ma túy là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự gia tăng của các nhóm tội phạm khác.

. Về vai trò của các bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn đối với hành vi mua bán trái phép chất ma túy, trong đó bị cáo T tham gia với vai trò là người khởi xướng và là người thực hành; bị cáo H tham gia với vai trò là người thực hành. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ mức độ tham gia vào tội phạm để cá thể hóa hình phạt đối với từng bị cáo.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra còn xem xét việc bị cáo T đầu thú, gia đình bị cáo T có công cách mạng là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Về nhân thân: Các bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

. Về hình phạt:

. Về hình phạt chính: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục các bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội.

. Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

. Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 gói niêm phong số 352/KL-KTHS của Phòng kỹ thuật hình sự – Công an tỉnh Đồng Nai chứa ma túy còn lại sau giám định. Xét vật chứng trên là công cụ dùng vào việc phạm tội, vật cấm tàng trữ. Căn cứ vào quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 màu đen: Đây là tài sản của bị cáo H và là phương tiện dùng vào việc phạm tội. Căn cứ vào quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 xe ô tô hiệu Mitsubishi loại Jolie biển số 52X-9029 và 01 Giấy đăng ký xe ô tô số 018957 của xe ô tô biển số 52X-9029 mang tên Vũ Thị S là tài sản hợp pháp của bà Vũ Thị S (mẹ đẻ của Vũ Đình T). Việc bị cáo T sử dụng xe ô tô trên đi bán ma túy thì bà S không biết và không đồng ý nên Hội đồng xét xử quyết định trao trả lại cho bà Vũ Thị S.

Đối với 750.000đ thu giữ khi bắt quả tang là tài sản hợp pháp của bị cáo Nguyễn Mạnh H. Xét tài sản trên trên không dùng vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trao trả cho bị cáo H là phù hợp.

. Về các vấn đề khác:

Đối với Trần Văn T1 và Đỗ Tuấn H1 có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tân Phú đã chuyển hồ sơ cho Ủy ban nhân dân xã Phú Trung ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.

Đối với người phụ nữ liên hệ mua ma túy của bị cáo T. Quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

. Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì các bị cáo Vũ Đình T và Nguyễn Mạnh H, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

. Xét quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận một phần.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự cho bị cáo T;

- Điểm b khoản 2 Điều 251, điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự cho bị cáo H;

- Điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự;

- Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên bố:

Bị cáo Vũ Đình T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Bị cáo Nguyễn Mạnh H phạm các tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt:

- Bị cáo Vũ Đình T 07 (bảy) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 22/02/2023.

- Bị cáo Nguyễn Mạnh H 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự, buộc bị cáo Nguyễn Mạnh H phải chấp hành hình phạt chung là 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 20/02/2023.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu, tiêu hủy 01 phong bì màu trắng ký hiệu số 352/KL-KTHS đã được niêm phong có dấu tròn đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự – Công an tỉnh Đồng Nai.

Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 màu đen.

Trả lại cho bà Vũ Thị S 01 xe ô tô hiệu Mitsubishi loại Jolie biển số 52X-9029 và 01 Giấy đăng ký xe ô tô số 018957 của xe ô tô biển số 52X-9029 mang tên Vũ Thị S.

(Các vật chứng theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 09/6/2023; Xe ô tô biển số 52X-9029 hiện đang quản lý tại kho vật chứng Công an huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai).

Về án phí: Buộc các bị cáo Vũ Đình T và Nguyễn Mạnh H, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Vũ Đình T và Nguyễn Mạnh H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Vũ Thị S có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ