- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Lê Phạm Nhã U khởi kiện ông Nguyễn Văn H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Phạm Nhã U về việc tranh chấp ly hôn và nuôi con với bị đơn ông Nguyễn Văn H.
- Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 89/2023/HNGĐ-ST Ngày 12-9-2023 V/v ly hôn và tranh chấp nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Chữ Cần
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Tống Văn Tâm;
2. Bà Huỳnh Anh Thư.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Yến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tân Uyên tham gia phiên tòa: Bà Bồ Thị Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Tân Uyên tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 240/2023/TLST-HNGĐ, ngày 27 tháng 6 năm 2023 về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 79/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 08/8/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Lê Phạm Nhã U, sinh năm 1977; thường trú: Tổ B, khu phố E, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương; chỗ ở hiện nay: Tổ F, khu phố E, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có đơn xin giải quyết vắng mặt;
- Bị đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1975; thường trú: Khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; tạm trú: Tổ F, khu phố E, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn bà Lê Phạm Nhã U trình bày:
Bà Lê Phạm Nhã U và ông Nguyễn Văn H sống chung với nhau từ tháng 4/2015, đến ngày ngày 15/9/2017 thì đăng ký kết hôn tại UBND phường U, thị xã (nay là thành phố ) T, tỉnh Bình Dương. Quá trình chung sống, cuộc sống gia đình ổn định, hạnh phúc đến khoảng đầu năm 2020, ông H không tu chí làm ăn, không kiếm việc làm để chăm lo, cho bà U và con là Nguyễn Lê Nhã H1 sinh ngày 10/12/2017, bỏ mặc mọi công việc trong gia đình cho bà U lo. Khoảng năm 2021, ông H phát sinh tật xấu chơi cờ bạc, chơi số đề dẫn đến chủ nợ đến nhà làm phiền gia đình cha mẹ ruột của bà U. Bà U có khuyên nhủ nhưng ông H không thay đổi, thậm chí ông H còn cãi nhau, hành hung bà U xảy ra cãi nhau với bà U. Từ tháng 01/2023, bà U không còn quan tâm đến nhau, mạnh ai nấy sống sau đó đến tháng 4/2023 thì bà U dọn về sống chung với cha mẹ tại tổ B, khu phố E, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Hiện tại tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà U yêu cầu giải quyết những vấn đề sau:
- Về quan hệ hôn nhân: bà Lê Phạm Nhã U yêu cầu được ly hôn ông Nguyễn Văn H.
- Về con chung: Bà Lê Phạm Nhã U yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Lê Nhã H1 sinh ngày 10/12/2017, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu tòa án giải quyết.
- Bị đơn ông Nguyễn Văn H: Không có bản tự khai, không đến Tòa án làm việc.
- Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa:
Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Đối với việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định. Đại diện Viện kiểm sát không có kiến nghị để khắc phục vi phạm tố tụng. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Phạm Nhã U.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án hôn nhân và gia đình mà bị đơn cư trú tại thành phố T và nguyên đơn đề nghị TAND thành phố Tân Uyên giải quyết. Căn cứ vào Điều 28, 35 và 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
Nguyên đơn bà Lê Phạm Nhã U có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn ông Nguyễn Văn H được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành thủ tục xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 227 và 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Bà Lê Phạm Nhã U và ông Nguyễn Văn H có đăng ký kết hôn tại UBND phường U, thị xã (nay là thành phố ) T, tỉnh Bình Dương ngày 15/9/2017 theo giấy chứng nhận kết hôn số 77/2017 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Theo bà U trình bày, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn vì ông H không tu chí làm ăn, bỏ mặc mọi công việc trong gia đình cho bà U lo, thậm chí còn đánh bạc, thiếu nợ, dẫn đến chủ nợ làm đến gây rối tại nhà ba mẹ bà U, dù được khuyên nhủ nhưng ông H không thay đổi còn hành hung bà U. Bà U và ông H không còn sống chung với nhau từ tháng 4/2023. Khi bà U đề nghị ly hôn, ông H biết, nhưng không thể hiện sự thay đổi, dù được thông báo thụ lý vụ án và Tòa án đã nhiều lần tổ chức và triệu tập ông tham gia hòa giải nhưng ông đều không đến cũng không có bản tự khai trình bày nguyện vọng đoàn tụ, điều này đã cho thấy ông H đã không quan tâm đến cuộc hôn nhân với bà U, vợ chồng không còn yêu thương, chăm sóc nhau, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của bà U là có cơ sở để chấp nhận.
Trong quá trình chung sống vợ chồng có con chung tên Nguyễn Lê Nhã H1 sinh ngày 10/12/2017, hiện con đang sống với bà U. Bà U yêu cầu được trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Lê Nhã H1. Xét thấy, cháu H1 hiện nay đang sống với bà U nên cần giữ ổn định về chỗ ở để không ảnh hưởng tâm lý, sự phát triển bình thường của trẻ. Bà U có đủ điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng con nên Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu Nguyễn Lê Nhã H1 cho bà U nuôi dưỡng. Bà U không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Trường hợp sau này bà U khó khăn hoặc nhu cầu cấp dưỡng của các cháu có sự thay đổi thì bà U có quyền yêu cầu ông Nguyễn Văn H cấp dưỡng nuôi con trong một vụ án khác.
Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí sơ thẩm: Bà Lê Phạm Nhã U phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 147, Điều 228, Điều 266, Điều 269, Điều 271, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Phạm Nhã U về việc tranh chấp ly hôn và nuôi con với bị đơn ông Nguyễn Văn H.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Phạm Nhã U được ly hôn với ông Nguyễn Văn H.
- Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Lê Nhã H1 sinh ngày 10/12/2017 cho bà Lê Phạm Nhã U được trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Lê Phạm Nhã U về việc không yêu cầu ông Nguyễn Văn H cấp dưỡng nuôi con.
Bà Lê Phạm Nhã U và ông Nguyễn Văn H đều có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con theo quy định của pháp luật. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người đang trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con chưa thành niên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con khi có đơn yêu cầu.
- Về tài sản chung và nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
2. Về án phí sơ thẩm: Bà Lê Phạm Nhã U phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0007769 ngày 20/6/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - VKSND thành phố Tân Uyên; - Chi cục THADS thành phố Tân Uyên; - Các đương sự; - Lưu VT, HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Chữ Cần |