- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Th - Chử Lương C"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Th.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM YÊN TỈNH TUYÊN QUANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 89/2023/HNGĐ-ST Ngày: 06 - 4 - 2023 V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀM YÊN, TỈNH TUYÊN QUANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:
Ông Lương Hữu San
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Ma Thị Như Trang
2. Ông Hoàng Văn Thiết
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Hạnh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Vũ Phương Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 401/2022/TLST-HNGĐ, ngày 09/12/2022 về việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 28/02/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 07/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 20/3/2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Th, sinh năm 1982.
Địa chỉ: Thôn E, xã X, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang.
2. Bị đơn: Anh Chử Lương C, sinh năm 1982.
Địa chỉ: Thôn E, xã X, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang.
(Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Th có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt; bị đơn anh Chử Lương C vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo nội dung Đơn khởi kiện, Bản tự khai và Đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Nguyễn Thị Th trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Chử Lương C kết hôn với nhau từ năm 2002 trên cơ sở tự do tìm hiểu, không bị ai cưỡng ép hay lừa dối kết hôn, được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương và đăng ký kết hôn tại UBND xã X, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang vào ngày 09/12/2002. Sau ngày cưới vợ chồng về chung sống tại thôn E, xã X, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Cuộc sống chung của hai vợ chồng ban đầu hạnh phúc. Đến khoảng tháng 10/2020 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm sống, tính tính không hợp nhau, anh C không chịu khó làm ăn để nuôi dạy con cái, chị khuyên nhủ thì còn đánh chửi chị. Mặc dù đã được hai bên gia đình khuyên giải nhưng anh C không thay đổi khiến cho mâu thuẫn ngày càng gay gắt nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay. Trong thời gian sống ly thân vợ chồng không hề có sự hỏi han, quan tâm, chăm sóc gì đến nhau khiến cho tình cảm vợ chồng ngày càng xa cách. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng với anh Chử Lương C đã hết, mục đích hôn nhân không đạt được nên không thể tiếp tục duy trì quan hệ hôn nhân để cùng nhau nuôi dạy con cái trưởng thành, xây dựng gia đình hạnh phúc, tiến bộ được nữa nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Chử Lương C để giải phóng cho cả hai người đi tìm cuộc sống mới.
Về con chung: Quá trình chung sống chị và anh Chử Lương C có 04 con chung là Chử Lương Minh, sinh ngày 04/9/2001; Chử Mạnh H, sinh ngày 03/9/2003; Chử Thị Ngọc Ch, sinh ngày 30/8/2005 và Chử Hoàng Hiếu Ngh, sinh ngày 28/5/2009. Sau khi ly hôn chị xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Chử Thị Ngọc Ch và Chử Hoàng Hiếu Ngh đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu anh Chử Lương C phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị. Đối với các con chung là Chử Lương M và Chử Mạnh H đã đủ tuổi trưởng thành, phát triển đầy đủ về tâm thẩn, thể chất, có khả năng tự lao động để nuôi sống bản thân nên chị không yêu cầu giải quyết.
Về tài sản, đất đai, vay nợ chung: Quá trình chung sống vợ chồng chị không có tài sản, đất đai chung; không vay nợ của ai, cũng không cho ai vay nợ nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt và niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật, nhưng bị đơn anh Chử Lương C không có mặt tại Tòa án để tham gia tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự và không có ý kiến gì đối với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Th.
Tòa án đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ tại địa phương và anh Chử Mạnh H là con đẻ của chị Nguyễn Thị Th và anh Chử Lương C, nội dung thể hiện:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Th và anh Chử Lương C kết hôn với nhau từ năm 2002 trên cơ sở tự nguyện, được hai bên gia đình tổ chức cưới hỏi theo phong tục địa phương, đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Sau khi cưới vợ chồng chị Thanh, anh Cường về chung sống tại thôn E, xã X, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Cuộc sống chung của hai vợ chồng ban đầu hạnh phúc, nhưng khoảng vài năm trở lại đây thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống, tính tình không hợp nhau nên vợ chồng thường xuyên cãi vã, đánh chửi nhau. Mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Th và anh C đã âm ỉ, kéo dài và ngày càng gay gắt nên chính quyền địa phương và người thân xác định tình trạng hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị Th và anh Chử Lương C đã đến mức độ trầm trọng không thể hàn gắn nên đề nghị Tòa án giải quyết yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Th theo quy định của pháp luật.
Về con chung: Quá trình chung sống chị Nguyễn Thị Th và anh Chử Lương C có 04 con chung là Chử Lương M, sinh ngày 04/9/2001; Chử Mạnh H, sinh ngày 03/9/2003; Chử Thị Ngọc Ch, sinh ngày 30/8/2005 và Chử Hoàng Hiếu Ngh, sinh ngày 28/5/2009.
Về tài sản, đất đai và vay nợ chung: Vợ chồng chị Nguyễn Thị Th, anh Chử Lương C không có tài sản, đất đai, vay nợ chung.
Về hộ khẩu thường trú: Kể từ kết hôn chị Nguyễn Thị Th và anh Chử Lương C đăng ký hộ khẩu thường trú và sinh sống tại thôn E, xã X, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang. Hiện tại anh Chử Lương C vẫn sinh sống tại thôn E, xã X chỉ thỉnh thoảng mới lên trang trại của bố mẹ đẻ tại xã Minh Khương, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang một vài ngày sau đó lại về nhà nên có biết việc chị Th khởi kiện xin ly hôn với anh C. Chính quyền địa phương và người thân chỉ biết trang trại của bố mẹ đẻ của anh C tại xã Minh Khương, còn địa chỉ cụ thể như thế nào thì địa phương và gia đình không nắm được.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Yên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán thực hiện đúng quy định của Điều 26, 48 Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đúng quan hệ tranh chấp, tư cách của người tham gia tố tụng; tiến hành xác minh, tống đạt các văn bản cho đương sự, gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát đúng thời hạn quy định. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng trình tự, thủ tục được quy định tại chương XIV của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Th thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn anh Chử Lương C chưa thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 235, 238, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Th:
+ Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Th được ly hôn với anh Chử Lương C.
+ Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Chử Thị Ngọc Ch, sinh ngày 30/8/2005 và Chử Hoàng Hiếu Ngh, sinh ngày 28/5/2009 cho chị Nguyễn Thị Th trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Chử Lương C không phải cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn. Đối với các con chung là Chử Lương M, sinh ngày 04/9/2001 và Chử Mạnh H, sinh ngày 03/9/2003 đã đủ tuổi trưởng thành nên không xem xét.
+ Về tài sản, đất đai, vay nợ chung: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Th xác định không có tài sản, đất đai vay nợ chung và cũng không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
+ Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Bị đơn anh Chử Lương C không phải nộp tiền án phí.
Ngoài ra, Kiểm sát viên còn đề nghị HĐXX tuyên quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và các chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về việc áp dụng pháp luật tố tụng dân sự:
Chị Nguyễn Thị Th khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Chử Lương C, do đó quan hệ pháp luật trong vụ án này được xác định là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn anh Chử Lương C có hộ khẩu thường trú và sinh sống tại thôn E, xã X, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hàm Yên theo quy định tại các Điều 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ, xác minh tại gia đình và địa phương cho thấy bị đơn anh Chử Lương C có hộ khẩu thường trú và thường xuyên sinh sống tại thôn E, xã X, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Như vậy nguyên đơn chị Nguyễn Thị Th đã cung cấp chính xác địa chỉ của bị đơn anh Chử Lương C. Anh C thường xuyên sinh sống tại địa phương, chỉ thỉnh thoảng mới lên trang trại của bố mẹ đẻ tại xã Minh Khương, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang một vài ngày lại về nhưng không đến Tòa án làm việc. Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ các tài liệu tố tụng (Thông báo về việc thụ lý vụ án; các Giấy triệu tập; Thông báo về việc mở phiên họp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải) theo quy định của pháp luật, mặc dù anh C đã biết được việc chị Th khởi kiện xin ly hôn với mình, nhưng anh C không có mặt tại Tòa án để tham gia tố tụng, không có ý kiến đối với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Sau khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Tòa án tiến hành triệu tập hợp lệ anh C đến tham gia phiên tòa (niêm yết công khai) 02 lần nhưng bị đơn vẫn cố tình vắng mặt không có lý do chính đáng, như vậy đây được xem là trường hợp bị đơn cố tình vắng mặt, tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình. Quá trình xét xử vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Th có đơn xin xét xử vắng mặt, do vậy Tòa án tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng đối với bị đơn và xét xử vụ án vắng mặt cả nguyên đơn và bị đơn là phù hợp với quy định tại Điều 179, khoản 2 Điều 227 và các Điều 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc chấp hành pháp luật và thực hiện quyền, nghĩa vụ của đương sự:
Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Th thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn anh Chử Lương C chưa thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án:
* Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Th và anh Chử Lương C kết hôn với nhau từ năm 2002, trên cơ sở tự nguyện, không bị ai cưỡng ép hay lừa dối phải kết hôn và thực hiện việc đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận. Sau khi kết hôn hai vợ chồng về chung sống tại thôn E, xã X, huyện Y, tỉnh Tuyên Quang. Cuộc sống hôn nhân của hai vợ chồng ban đầu hạnh phúc nhưng đến năm 2020 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống, không hợp về tính cách nên vợ chồng thường xuyên cãi vãi, đánh chửi nhau. Mặc dù đã được hai bên gia đình khuyên can nhưng hai vợ chồng vẫn không thể hàn gắn nên đã sống ly thân với nhau từ năm 2020 cho đến nay. Trong thời gian sống ly thân vợ chồng không còn hỏi han, quan tâm chăm sóc gì đến nhau. Chị Th xác định tình cảm vợ chồng với anh Chử Lương C đã hết nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh C. Do đó Hội đồng xét xử thấy rằng mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Th và anh Chử Lương C đã đến mức độ trầm trọng, không còn tồn tại một gia đình hạnh phúc, tiến bộ, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho chị Nguyễn Thị Th được ly hôn với anh Chử Lương C là phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
* Về con chung: Quá trình chung sống chị Nguyễn Thị Th và anh Chử Lương C có 04 con chung là Chử Lương M, sinh ngày 04/9/2001; Chử Mạnh H, sinh ngày 03/9/2003; Chử Thị Ngọc Ch, sinh ngày 30/8/2005 và Chử Hoàng Hiếu Ngh, sinh ngày 28/5/2009. Quá trình giải quyết vụ án chị Thanh đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng nuôi dưỡng 02 con chung là Chử Thị Ngọc Ch và Chử Hoàng Hiếu Ngh và không yêu cầu anh Chử Lương C phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Các cháu Chử Thị Ngọc Ch và Chử Hoàng Hiếu Ngh cũng có nguyện vọng được sống cùng mẹ. Do đó, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt của con chưa thành niên, Hội đồng xét xử thấy rằng cần giao 02 con chung là Chử Thị Ngọc Ch và Chử Hoàng Hiếu Ngh cho chị Nguyễn Thị Th trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Chử Lương C không phải thực hiện nghĩa cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn theo quy định tại Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình. Đối với các con chung là Chử Lương M và Chử Mạnh H đã đủ tuổi trưởng thành, phát triển đầy đủ về tâm thần, thể chất và có khả năng lao động để tự nuôi sống bản thân nên không xem xét.
* Về tài sản, đất đai, vay nợ chung: Qua kết quả xác minh tại địa phương và lời khai của nguyên đơn thể hiện vợ chồng chị Nguyễn Thị Th và anh Chử Lương C không có tài sản, đất đai, vay nợ chung. Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Th cũng không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí và quyền kháng cáo bản án:
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Th phải nộp án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Bị đơn anh Chử Lương C không phải nộp án phí. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 179, 227, 228, 235, 238, 266, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Th.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Th được ly hôn với anh Chử Lương C.
2. Về con chung: Giao 02 con chung là Chử Thị Ngọc Ch, sinh ngày 30/8/2005 và Chử Hoàng Hiếu Ngh, sinh ngày 28/5/2009 cho chị Nguyễn Thị Th trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Chử Lương C không phải thực hiện nghĩa cấp dưỡng nuôi con chung và có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung mà không ai được cản trở, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau khi ly hôn. Đối với 02 con chung là Chử Lương M, sinh ngày 04/9/2001; Chử Mạnh H, sinh ngày 03/9/2003 đã đủ tuổi trưởng thành, phát triển đầy đủ về tâm thần, thể chất và có khả năng lao động để tự nuôi sống bản thân nên không xem xét.
3. Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Th phải nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005901, ngày 09/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang. Ghi nhận chị Nguyễn Thị Th đã nộp đủ tiền án phí.
Bị đơn anh Chử Lương C không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Th và bị đơn anh Chử Lương C được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND tỉnh Tuyên Quang; - VKSND huyện Hàm Yên; - Chi cục THADS huyện Hàm Yên; - UBND xã X (Giấy chứng nhận kết hôn số 21, ngày 09/12/2002); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Hữu San |