- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH HẬU GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 89/2023/HNGĐ - ST Ngày: 29/9/2023 V/v “Tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hường
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Võ Văn Trường
2. Ông Nguyễn Văn Tho
- Thư ký phiên tòa: Ông Võ Minh Châu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hà - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.
Ngày 29 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang. Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 231/2023/TLST - HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2023 về tranh chấp ly hôn. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2023/QĐXX-HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên toà số: 34/2023/QĐ-HNGĐ giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ C, sinh năm: 1989 (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: ấp Đông B, xã Đông Ph, huyện Châu Th, tỉnh Hậu G.
-Bị đơn: Ông Nguyễn Ngọc B, sinh năm: 1991 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp Đông B, xã Đông Ph, huyện Châu Th, tỉnh Hậu G.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Mỹ C trình bày: Bà và ông B chung sống như vợ chồng năm 2014, đăng ký kết hôn tại UBND xã Đông Phước, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện. Quá trình chung sống vào thời gian đầu vợ chồng cũng hạnh phúc nhưng thời gian sau này thì giữa ông bà xảy ra nhiều bất hòa, mâu thuẫn, bất đồng về quan điểm sống, cãi nhau nên từ đó vợ chồng không còn tình cảm với nhau nữa. Nay bà Mỹ C yêu cầu ly hôn với ông Bình.
Về con chung: Ông bà có 02 con chung là Nguyễn Bình Nguyên (nam), sinh ngày 13/02/2014 và Nguyễn Trọng Nguyên (nam), sinh ngày 09/6/2017. Bà Mỹ C yêu cầu được nuôi Trọng Nguyên cho đến khi con tròn 18 tuổi. Đồng ý giao Bình Nguyên cho ông B nuôi dưỡng cho đến khi con tròn 18 tuổi. Bà Mỹ C không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con và không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa ông Nguyễn Ngọc B trình bày: Ông thống nhất với phần trình bày của bà Hạnh về quan hệ hôn nhân, ông còn thương bà Mỹ C nên không đồng ý ly hôn.
Về con chung: Ông bà có 02 con chung là Nguyễn Bình Nguyên (nam), sinh ngày 13/02/2014 và Nguyễn Trọng Nguyên (nam), sinh ngày 09/6/2017. Ông B đồng ý nuôi Bình Nguyên cho cho đến khi con tròn 18 tuổi. Bà Mỹ C nuôi Trọng Nguyên cho đến khi con tròn 18 tuổi. Ông B không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con và ông cũng không cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:
+ Về thủ tục: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi mở phiên tòa Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật về tố tụng. Nguyên đơn đã chấp hành đúng theo quy định pháp luật còn bị đơn thì chưa.
+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Mỹ Ca. Con chung: Giao cháu Bình Nguyên cho ông B trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con tròn 18 tuổi. Giao cháu Trọng Nguyên cho bà Mỹ C trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con tròn 18 tuổi. Ông B và bà Mỹ C chưa ai phải cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung, nợ chung: Các đương sự khai không có, không yêu cầu nên chưa đề cập giải quyết. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Đương sự phải chịu theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên
tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền tố tụng: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp ly hôn, nuôi con, bị đơn có nơi cư trú trên địa bàn huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành. Bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 để tham dự phiên toà sơ thẩm những vẫn vắng mặt không lý do. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các bên đương sự. Hội đồng xét xử căn cứ vào điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn ông Bình.
Về nội dung: Bà Nguyễn Thị Mỹ C và ông Nguyễn Ngọc B tự nguyện chung sống như vợ chồng, có tổ chức đám cưới theo phong tục cổ truyền và đăng ký kết hôn năm 2014 tại UBND xã Đông Phước, huyên Châu Thành, tỉnh Hậu Giang nên được xem là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Theo lời khai của bà Mỹ C thì cuộc sống của vợ chồng thời gian đầu hạn phúc nhưng sau này thì xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng cãi nhau, bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung nên từ đó tình cảm không còn. Nay bà Mỹ C yêu cầu ly hôn với ông Bình. Quá trình giải quyết vụ án ông B thừa nhận ông bà thường xuyên có cãi nhau nhưng ông còn thương bà Mỹ C nên không đồng ý ly hôn. Tuy nhiên, từ khi Tòa án thụ lý vụ án cho đến khi mở phiên tòa hôm nay, ông B không có động thái nào hàn gắn tình cảm với bà Mỹ C và bà Mỹ C cũng đã kiên quyết ly hôn nên xét thấy hôn nhân của ông bà đã lâm vào tình trạng nghiêm trong, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, yêu cầu ly hôn của bà Mỹ C là có cơ sở để chấp nhận.
Về con chung: Ông bà có 02 con chung là Nguyễn Bình Nguyên (nam), sinh ngày 13/02/2014 và Nguyễn Trọng Nguyên (nam), sinh ngày 09/6/2017. Ông bà thống nhất thỏa thuận cháu Bình Nguyên sẽ do ông B trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con tròn 18 tuổi và cũng theo nguyện vọng của cháu Bình Nguyên là muốn được ở với cha. Cháu Trọng Nguyên sẽ do bà Mỹ C trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con tròn 18 tuổi. Ông B và bà Mỹ C chưa ai phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Từ những tình tiết, chứng cứ nêu trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa và yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn tại phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Áp dụng các Điều 51, Điều 55, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn. Bà Nguyễn Thị Mỹ C được ly hôn với ông Nguyễn Ngọc Bình.
[3] Về con chung: Giao cháu Nguyễn Bình Nguyên (nam), sinh ngày 13/02/2014 cho ông B trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con tròn 18 tuổi. Giao cháu Nguyễn Trọng Nguyên (nam), sinh ngày 09/06/2017 cho bà Mỹ C trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con tròn 18 tuổi. Ông B và bà Mỹ C chưa ai phải cấp dưỡng nuôi con.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc chăm lo, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con chung, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật. Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.
[4] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự khai không có nên không đặt ra để xem xét giải quyết.
[5] Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Mỹ C phải chịu là 300.000 đồng nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà bà đã nộp theo Biên lai số 0011315 ngày 19/7/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang. Bà Mỹ C đã nộp đủ án phí.
[6] Nguyên đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
[7] Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền được yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án dân sự theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: VKSND H Châu Thành; THADS H Châu Thành; Các đương sự; Cơ quan thực hiện việc ĐKKH; Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Thúy Hường |