- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Hợp đồng vay tài sản"
- Căn cứ chính? Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 89/2023/DS-ST Ngày 23 tháng 5 năm 2023 “V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa Pên tòa: Ông Nguyễn Trung Kiên.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Thiện Lai và bà Phan Thị Nga;
- Thư ký Pên tòa: Bà Võ Thị Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ
Mới, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham
gia Pên toà: Ông Nguyễn Phước Lợi - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới
xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 386/2022/TLST-DS ngày 05
tháng 12 năm 2022 về “tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 214/2023/QĐXXST-DS ngày 13
tháng 4 năm 2023, Quyết định hoãn Pên tòa số 234/2023/QĐST-DS ngày 05
tháng 05 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP A; trụ sở chính: 130 Phan Đăng Lưu,
Phường 3, quận Phú Nhuận, T phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ chỉ phòng giao dịch: Ngân hàng TMCP A – Chi nhánh An Giang
– Phòng giao dịch C; địa chỉ: 06A N, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang.
Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Thanh T1 - Chức vụ: Chủ
tịch hội đồng quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền: ông Phạm Hữu T - Chức vụ: Giám đốc
Ngân hàng TMCP A – Chi nhánh An Giang - Phòng giao dịch Chợ Mới; địa chỉ:
06A N, thị trấn C, huyện C, tỉnh An Giang (theo Quyết định số 163/QĐ-DAB-
HĐQT-PC ngày 08/8/2022).
Người đại diện ủy quyền tham gia tố tụng: ông Nguyễn Hữu T - Chức vụ:
nhân viên Ngân hàng TMCP A – Chi nhánh An Giang - Phòng giao dịch C (theo
văn bản ủy quyền ngày 28/12/2022); có mặt.
2. Bị đơn: Bà Đinh Thị V; sinh năm 1986; địa chỉ: ấp Thị 2, thị trấn Mỹ
Luông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Vắng mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Ông Lê Minh Vương, sinh năm 1987; địa chỉ: ấp Thị 2, thị trấn Mỹ
Luông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang; vắng mặt;
3.2. Hội Liên hiệp phụ nữ xã AT, người đại diện là bà Quách Phương P,
chức vụ: Chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ xã AT, sinh năm 1988; địa chỉ: ấp An Lạc, xã AT, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.
3.3. Bà Ôn Thị M, sinh 1956; địa chỉ: ấp An Quới, xã AT, huyện C, tỉnh
An Giang; địa chỉ liên lạc: ấpL, xã Đ, huyện C, tỉnh An Giang; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện và các lời khai cung cấp trong quá trình giải quyết
vụ án, nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày, ngày 17/01/2018 bà Đinh Thị V có vay của Ngân hàng TMCP A – Ngân hàng TMCP A – Chi nhánh An Giang – Phòng giao dịch Chợ Mới (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) số tiền vốn 20.000.000đồng, hình thức vay là trả góp vốn, lãi suất tính trên dư nợ ban đầu là 10%/ năm, quá hạn 15%/ năm. Thời hạn vay là 12 tháng từ ngày 17/01/2017 đến ngày 17/01/2018, phương thức thanh toán: nợ gốc và lãi vay trả góp liên tục 12 kỳ cụ thể: 11 kỳ trả 1.840.000đồng, kỳ cuối trả 1.760.000đồng. Do bà Đinh Thị V vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên từ ngày 17/01/2019 Ngân hàng đã chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn. Do vậy, Ngân hàng yêu cầu bà V phải trả theo quy định tại hợp đồng tín dụng cho vay trả góp số 00858867/0135542601T18079 ngày 17/01/2018; trường hợp bà Đinh Thị V không thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng thì ông Lê Minh Vương phải trả nợ thay cho bà Đinh Thị V cho đến khi hết nợ vay tại ngân hàng.
- Bị đơn bà Đinh Thị V vắng mặt, nên không ghi nhận được ý kiến.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Lê Minh Vương vắng mặt, nên không ghi nhận được ý kiến.
+ Hội Liên hiệp phụ nữ xã AT, do bà Quách Phương P đại diện trình bày,
năm 2017, Ban chấp hành Hội Liên hiệp phụ nữ xã AT có tạo điều kiện, giới thiệu T viên phụ nữ xã vay vốn của Ngân hàng A. Trong đó, có bà Đinh Thị V, Hội phụ nữ có lập các Tổ vay để thực hiện việc thu vốn, lãi giao cho Ngân hàng. Bà V, bà V thuộc Tổ của bà Ôn Thị M, bà V thì từ khi vay không trả tiền vốn và lãi.
+ Bà Ôn Thị M trình bày, Hội Liên hiệp phụ nữ xã AT có tạo điều kiện,
giới thiệu T viên phụ nữ xã vay vốn của Ngân hàng A. Bà M được ủy quyền, thu vốn, lãi nộp lại cho Ngân hàng. Trong đó, có bà V, bà V, mỗi người vay số tiền 20.000.000 đồng, và đều trả được 06 kỳ vốn và lãi thì ngưng. Sau đó, bà V có
trả thêm được số tiền vốn và lãi là 4.720.000 đồng; bà Đẹp trả được 8.000.000
đồng, bà M đã thu và nộp cho Ngân hàng.
Tòa án đã tiến hành tổ chức Pên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận,
công khai chứng cứ và tiến hành hòa giải nhưng bị đơn vắng mặt, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn đề nghị vắng mặt nên vụ án không tiến
hành hòa giải được. Do đó, Tòa án mở Pên tòa sơ thẩm xét xử công khai vụ án
để Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.
Tại Pên tòa,
- Đại diện Ngân hàng trình bày, đề nghị rút yêu cầu khởi kiện đối với yêu
cầu tính phí thường niên duy trì thẻ, xác định lại thời điểm chuyển nợ quá hạn là
từ ngày 27/02/2018; bổ sung bảng kê tính lãi, ngoài ra không bổ sung tài liệu,
chứng cứ nào khác.
- Bà M và đại diện Hội liên hiệp phụ nữ xã AT có đơn đề nghị vắng mặt,
nên không ghi nhận ý kiến tại Pên tòa, ông Vương vắng mặt tại Pên tòa lần thứ
2, không có lý do không ghi nhận được ý kiến, các đương sự vắng mặt không
cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia Pên tòa:
Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án
trong giai đoạn chuẩn bị xét xử và tại Pên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư
ký Tòa án đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn, người
đại diện hợp pháp của nguyên đơn đã thực hiện đúng theo quy định tại các Điều
70, 71, 85, 86 và Điều 324 Bộ luật Tố tụng dân sự,
Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Minh Vương
vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến, chưa thực hiện đúng theo quy định
tại Điều 70, 71, 73 Bộ luật Tố tụng dân sự. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên
quan bà M, đại diện Hội liên hiệp phụ nữ xã AT có đơn đề nghị xét xử vắng
mặt; nên Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định tại Điều 227,
Về nội dung vụ án:
Công nhận hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng TMCP A và bà Đinh Thị
V.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP A.
- Buộc bà Đinh Thị V trả số tiền 11.615.300 đồng, trong đó: vốn
5.801.537 đồng, lãi trong hạn: 438.463 đồng, lãi phạt 5.375.300 đồng (tính đến
ngày 23/5/2023) và lãi phát sinh theo hợp đồng đã ký kết. Trong trường hợp bà
Đinh Thị V không thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng, thì
ông Lê Minh Vương phải trả thay bà Đinh thị V cho đến khi thanh toán xong nợ.
- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu về phí thường niên duy trì thẻ.
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 335, 336, 463, 466, 468 Bộ luật
Dân sự; Điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng xem xét, quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ án:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả tiền vốn, lãi cho vay theo hình thức hợp đồng tín dụng; bị đơn đang cư trú tại huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang, các đương sự khi giao kết hợp đồng không có mục đích lợi nhuận, nên quan hệ tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, điểm g, h khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng, sự vắng mặt của đương sự: Tòa án đã triệu tập
đương sự hợp lệ. Tuy nhiên, bà V, ông Vương đã vắng mặt tại Pên tòa lần thứ 2, đại diện Hội Liên hiệp phụ nữ xã AT, bà M đều có ý kiến vắng mặt tại Pên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc ủy quyền tham gia tố tụng: Ngân hàng ủy quyền cho ông T
tham gia tố tụng phù hợp với quy định tại Điều 85, 86 Bộ luật Tố tụng dân sự, nên ông T có đầy đủ các quyền, nghĩa vụ đương sự theo quy định pháp luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về việc xác lập và thực hiện hợp đồng: ngày 17/01/2018 bà Đinh
Thị V có vay của Ngân hàng TMCP A (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) số tiền vốn 20.000.000đồng, hình thức vay là trả góp vốn, lãi suất tính trên dư nợ ban đầu là 10%/ năm, quá hạn 15%/ năm. Thời hạn vay là 12 tháng từ ngày 17/01/2017 đến ngày 17/01/2018, phương thức thanh toán: nợ gốc và lãi vay trả góp liên tục 12 kỳ cụ thể: 11 kỳ trả 1.840.000đồng, kỳ cuối trả 1.760.000đồng, hình thức vay nợ không có tài sản bảo đảm, phương thức tính lãi: lãi được tính trên nợ gốc ban đầu; ông Lê Minh Vương là người bảo lãnh cho khoản vay của bà V (thể hiện tại giấy đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng vốn ngày 03/01/2018). Do bà Đinh Thị V vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên từ ngày 27/02/2018, nên Ngân hàng đã chuyển toàn bộ số nợ vay còn thiếu sang nợ quá hạn.
Xét thấy, theo quy định tại 3 Điều 2 Hợp đồng tín dụng cho vay trả góp
(có đối tác liên kết) số 00858867/0135542601T18079 ngày 17/01/2018; Điều 351, 353, 357 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì việc bà V đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ lãi theo thỏa thuận, nên Ngân hàng đã chuyển khoản vay của bà V sang nợ quá hạn từ ngày 27/02/2018 là phù hợp theo sự thỏa thuận của các bên, vì việc giao kết hợp đồng giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, có lập văn bản, sau
khi giao kết Ngân hàng đã thực hiện giải ngân đầy đủ số tiền 20.000.000 đồng;
ngoài ra đến nay bà V cũng chưa thực hiện thanh toán dư nợ gốc còn lại theo
thỏa thuận, và vi phạm nghĩa vụ trả lãi, nên Ngân hàng tiếp tục tính lãi theo thỏa
thuận tại Hợp đồng tín dụng là phù hợp theo thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng
giữa Ngân hàng với bà V.
Vì vậy, việc Ngân hàng khởi kiện bà V là có cơ sở. Hơn nữa, trong quá
trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho bà V, nhưng bà
V không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, nên bà V đã từ bỏ
quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình. Do vậy, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng
được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận, buộc bà V phải có nghĩa vụ thanh
toán cho Ngân hàng số tiền 11.615.300 đồng (trong đó: vốn 5.801.537 đồng, lãi
trong hạn: 438.463 đồng, lãi quá hạn 5.375.300 đồng).
Tại Pên tòa, đại diện Ngân hàng rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với
yêu cầu tính phí thường niên duy trì thẻ, nên Hội đồng xét xử thống nhất đình
chỉ yêu cầu về yêu cầu tính phí thường niên duy trì thẻ.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, bà Đinh Thị V còn
phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên
đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng cho vay trả góp (có đối tác liên kết) số
00858867/0135542601T18079 ngày 17/01/2018, cho đến khi thanh toán xong
các khoản nợ.
Về yêu cầu bảo lãnh: Ngân hàng yêu cầu Lê Minh Vương phải có
nghĩa vụ bảo lãnh trong trường hợp bà V không thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ
trả nợ, thỏa thuận bảo lãnh thể hiện tại đề nghị vay vốn kiêm phương án sử dụng
vốn, ông Vương cũng đã xác nhận, mặc dù giữa bà V, ông Vương đã ly hôn năm
2019, nhưng thời điểm ông Vương xác nhận bảo lãnh trước khi giữa ông Vương
và bà V ly hôn, nên việc ký bảo lãnh của ông Vương là phù hợp. Vì vậy, việc
xác nhận nghĩa vụ bảo lãnh là phù hợp quy định tại Điều 335, 336 Bộ luật Dân
sự, nên ông Vương phải có nghĩa vụ thanh toán khoản vay trong trường hợp bà
V không thực hiện được nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên
Ngân hàng không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, Ngân hàng được hoàn lại tiền
tạm ứng án phí đã nộp. Bà V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều 335, 336, 351, 357, 463, 466, 468, 470 Bộ luật Dân sự
năm 2015;
- Căn cứ khoản 14 và khoản 16 Điều 4, Điều 91, Điều 95 Luật các tổ
chức tín dụng.
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1
Điều 39, điểm g, h khoản 1 Điều 40 các Điều 147, 157, 217, 227, 228, 244, 273, 278, 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP A; buộc bà Đinh
Thị V trả cho Ngân hàng TMCP A do Ngân hàng TMCP A – Chi nhánh An Giang – Phòng giao dịch Chợ Mới đại diện với tổng số tiền 11.615.300 đồng (trong đó: vốn 5.801.537 đồng, lãi trong hạn: 438.463 đồng, lãi quá hạn 5.375.300 đồng), tính đến ngày 23 tháng 5 năm 2023.
Trong trường hợp bà Đinh Thị V không thực hiện đúng và đẩy đủ nghĩa
vụ trả nợ cho TMCP A do Ngân hàng TMCP A – Chi nhánh An Giang – Phòng giao dịch Chợ Mới đại diện thì ông Lê Minh Vương phải trả nợ thay bà Đinh Thị V cho đến khi hết nợ.
1.2. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án
xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thanh toán theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng cho vay trả góp (có đối tác liên kết) số 00858867/0135542601T18079 ngày 17/01/2018. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho bên cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh phù hợp với lãi suất của bên cho vay.
1.3. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP A đối
với phí thường niên duy trì thẻ.
2. Về án phí, chi phí tố tụng:
2.1. Ngân hàng TMCP A do Ngân hàng TMCP A – Chi nhánh An Giang
– Phòng giao dịch Chợ Mới đại diện được nhận lại số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án, lệ phí Tòa án số 0012991 ngày 05 tháng 12 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới.
2.2. Bà Đinh Thị V phải chịu án phí dân sự sơ thẩm với số tiền 580.765
đồng (năm trăm tám mươi nghìn, bảy trăm sáu mươi lăm đồng), bà V có nghĩa vụ nộp tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
3. Về quyền kháng cáo:
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm)
ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại Pên tòa hoặc không có mặt khi
tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo 15 (mười lăm) ngày tính
từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2
Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành
án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án dân sự,
tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7a,
7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy
định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh An Giang (1); - VKSND H. Chợ Mới (2); - Chi cục THADS H. Chợ Mới (1); - Các đương sự (để thi hành) (5); - Lưu hồ sơ (1); - Lưu văn phòng (1). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PÊN TÒA Nguyễn Trung Kiên |