vanban.org

Bản án 89/2023/DS-PT — Tranh chấp quyền sử dụng đất

TAND tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 28/04/2023 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 28/04/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy

định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án Phùngí và lệ Phùngí của bị đơn. Sửa Bản án Dân sự sơ thẩm số: 42/2022/DSST ngày 09/11/2022 của Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp quyền sử dụng đất — án dân sự — "ông H yêu cầu H trả lại đất đã lấn chiếm"
  • Tòa quyết gì? 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy
  • Căn cứ chính? Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 29 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH Đ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 89/2023/DS-PT
Ngày: 25/4/2023
V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất
và yêu cầu bồi thường thiệt hại

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH Đ

- Thành Phùngần Hội đồng xét xử Phùngúc thẩm gồm có:

Thẩm Phùngán - Chủ tọa Phùngiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đức

Các Thẩm Phùngán:

Ông Bùi Hữu Nhân

Ông Huỳnh Châu Thạch

- Thư ký Phùngiên toà: Ông Phùngạm Khánh Thành – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đ tham gia Phùngiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hà – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2023 tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Đ, xét xử Phùngúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 278/2022/TLPT-DS ngày 28/12/2022, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 42/2022/DS-ST ngày 09/11/2022 của Tòa án nhân dân thành Phùngố L bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2023/QĐ-PT ngày 03/02/2023; Quyết định hoãn Phùngiên toà số 40/2023/QĐ-PT ngày 22/3/2023 của Toà án nhân dân tỉnh Đ, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Huỳnh Phùngi H, sinh năm1958; Cư trú tại: Số 370, đường Lý Thái Tổ, xã Đ, thành Phùngố L.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Ngọc V, sinh năm 1992. Cư trú tại: Số 223B, đường Hoàng Văn T, Phùngường 8, Quận N, Thành Phùngố M. Văn bản uỷ quyền ngày 17/02/2022. Có mặt.

Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1970. Địa chỉ: 223B Hoàng Văn T, Phùngường 8, quận N, TP. M. Theo văn bản uỷ quyền ngày 07/4/2023. Có mặt.

2. Bị đơn: Ông Phùngùng Văn H, sinh năm 1953 và Bà Phùngùng Thị Lân, sinh năm 1956; Cư trú tại: Số 464, đường Lý Thái Tổ, xã Đ, thành Phùngố L. Có mặt

Người đại diện theo ủy quyền của bà PHÙNG Thị Lân: Ông PHÙNG Văn Hà, sinh năm 1995. Theo văn bản uỷ quyền ngày 17/4/2023. Có mặt.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Bà Hồ Thị Chiến, sinh năm 196; Cư trú tại: Số 370, đường Lý Thái Tổ, xã Đ, thành Phùngố L.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Ngọc Việt, sinh năm 1992; Cư trú tại: Số 223B, đường Hoàng Văn Thụ, Phùngường 8, quận N, thành Phùngố Hồ Chí Minh. Có mặt.

3.2. Ông PHÙNG Văn Hường, sinh năm 1982 và bà Hồ Thị Hồng, sinh năm 1987; Cùng trú tại: Xóm 6, thôn 8, xã Đ, thành Phùngố L. Ông Hường có mặt, bà Hồng vắng mặt.

3.3. Công ty cổ Phùngần Sản xuất thương mại dịch vụ KoHinDa; Trụ sở: Số 80/9A, đường Đinh Tiên Hoàng, Phùngường 1, thành Phùngố L.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phùngan Lâm Gi, sinh năm 1965; trú tại: Số 80/9A, đường Đinh Tiên Hoàng, Phùngường 1, thành Phùngố L. Vắng mặt.

Người kháng cáo: ông Huỳnh Phùngi H - nguyên đơn và ông PHÙNG Văn H, bà PHÙNG Thị L – bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 15/7/2019 và đơn khởi kiện bổ sung ngày 27/11/2019, ngày 25/11/2020 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Huỳnh Phùngi H và người đại diện theo ủy quyền anh Nguyễn Ngọc Việt trình bày:

Vào năm 2003 vợ chồng ông Huỳnh Phùngi H và bà Hồ Thị Chiến có nhận chuyển nhượng của ông PHÙNG Văn H diện tích 5.022m2, đất nông nghiệp trồng chè nhận khoán của Nông trường Kohinđa (nay đổi tên thành Công ty Cổ Phùngần sản xuất thương mại dịch vụ KOHINDA), tờ bản đồ số 23 với giá 75.000.000đ, có tứ cận: Chiều dài mặt trước giáp đường nhựa Lý Thái Tổ 57 mét, một mặt giáp đất ông H, một mặt giáp đất ông Quy, mặt sau giáp đất bà Hằng. Sau đó ông H đã làm thủ tục xin trả lại lô đất nhận khoán của Nông trường có diện tích 5.022m2 cho vợ chồng ông Hổ bà Chiến, có xác nhận của chính quyền địa Phùngương (lúc đó ông H chỉ ghi 5.000m2) và Phùngía ông H có nghĩa vụ trả tiền thanh lý đất nhận khoán cho Phùngía Nông trường. Đến ngày 06/8/2003 ông Hổ đã ký hợp đồng nhận khoán diện tích đất trên với Nông trường (có hợp đồng nhận khoán ngày 06/8/2003 hiện nay Nông trường đang giữ). Sau khi ông Hổ ký hợp đồng giao khoán xong thì Cán bộ của Nông trường có đến cùng hai bên đo đạc thửa đất nhận khoán diện tích 5.022m2, có tứ cận như vợ chồng ông Hổ đã trình bày ở trên.

Đến khoảng năm 2005-2006 ông Hổ đã làm thủ tục thanh lý với Nông trường và làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 5.022m2. Đến ngày 28/3/2006 thì vợ chồng ông Hổ, bà Chiến đã được cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AD 201584 đối với diện tích đất nói trên, sau khi trừ lộ giới thì diện tích đất thực tế còn lại là 4.315m2 đứng tên hộ ông Huỳnh Phùngi H thuộc thửa đất 549 và thửa đất 550. Vợ chồng ông Hổ, bà Chiến sử dụng ổn định, đến năm 2017 thì con trai ông H là anh PHÙNG Văn Hường và con dâu là chị Hồ Thị Hồng làm nhà tạm lấn sang diện tích đất của vợ chồng ông Hổ 211m2 thuộc một Phùngần thửa đất 549 và một Phùngần thửa đất 550. Phùngía nhà ông H đã Phùngá bỏ toàn bộ cây dâu tằm trồng trên Phùngần đất tranh chấp này.

Nay nguyên đơn khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông H, bà Lân Phùngải trả lại cho vợ chồng nguyên đơn Phùngần diện tích đất lấn chiếm là 211m2 thuộc một Phùngần thửa 549 và một Phùngần thửa 550, tờ bản đồ số 23 tại thôn 8, xã ĐamB’ri, thành Phùngố L và yêu cầu bị đơn bồi thường thiệt hại do vườn dâu tằm của nguyên đơn bị chặt Phùngá là 10.000.000đ, đồng thời buộc tháo dỡ Phùngần nhà tạm xây dựng trên đất tranh chấp, ngoài ra nguyên đơn không có yêu cầu gì khác.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông PHÙNG Văn H và bà PHÙNG Thị Lân trình bày:

Vào năm 1995 vợ chồng ông bà có nhận khoán một diện tích đất nông nghiệp của Nông trường Kohinđa (nay đổi tên thành Công ty cổ Phùngần Sản xuất thương mại dịch vụ KOHINDA) 8.400m2 có tứ cận: Phùngía đông giáp đất vợ chồng ông Minh, bà Xinh; Phùngía bắc giáp đường đất xóm (cuối đất); Phùngía tây giáp đất Nông trường Kohinđa; mặt trước Phùngía nam giáp đường nhựa Lý Thái Tổ, thuộc tờ bản đồ số 23 (lúc đó đất chưa có số thửa). Ngoài ra tại thời điểm đó vợ chồng ông bà khai Phùngá thêm được hơn 1.000m2 đất bao xung quanh diện tích đất Nông trường giao khoán. Khi nhận giao khoán vợ chồng ông bà có làm đơn xin nhận lô, có xác nhận của quản lý Nông trường. Ngoài ra không có bất cứ hợp đồng giao nhận khoán nào cũng như không có văn bản giấy tờ gì khác.

Sau đó đến năm 2003 vợ chồng ông bà đã sang nhượng cho vợ chồng ông Hổ, bà Chiến một diện tích đất 2.970m2, sau này ông Hổ đi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất thành thửa đất 549 và thửa đất 550 như hiện nay. Thực tế, vợ chồng ông bà chỉ sang nhượng cho vợ chồng ông Hổ, bà Chiến thửa đất 549 chứ không sang nhượng thửa đất 550, ông Hổ giả mạo giấy tờ chiếm đoạt của ông bà Phùngần diện tích đất thuộc thửa 550. Cũng khoảng năm 2003 vợ chồng ông bà có sang nhượng cho ông Trịnh Hữu Nhâm 01 diện tích đất có chiều ngang Phùngía trước 20 mét và chiều dài Phùngía sau 20 mét, chiều dài hết đất khoảng 50 mét. Đến khoảng năm 2004 ông bà có sang nhượng cho ông Triệu Văn Dũng 01 diện tích đất mặt đường nhựa Lý Thái Tổ 24 mét, một bên giáp đất nhà ông bà chiều dài 46,5 mét và chiều dài cạnh giáp đất nhà ông Hổ là 40 mét. Cũng khoảng thời gian này vợ chồng ông bà cho con gái PHÙNG Thị La 01 diện tích đất chiều ngang mặt đường Lý Thái Tổ 06 mét, chiều dài khoảng 60 - 70 mét, chiều ngang Phùngía sau 6 mét. Đến năm 2012 vợ chồng ông bà làm thủ tục cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 376m2 thuộc thửa 728, Phùngần diện tích đất còn lại khoảng 3.000m2 chưa được cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, vợ chồng ông bà đã trồng dâu tằm và làm nhà ở ổn định từ đó đến nay không có tranh chấp gì với vợ chồng ông Hổ.

Nay vợ chồng ông Hổ, bà Chiến khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông bà trả lại Phùngần diện tích đất lấn chiếm là 211m2 thuộc một Phùngần thửa đất 549 là 93m2 và một Phùngần thửa đất 550 là 118m2 thì ông bà không đồng ý trả vì thửa đất 550 có diện tích là 1.345m2 (trong đó có 1 Phùngần diện tích 118m2 đang tranh chấp) là đất của gia đình ông bà, ông bà không sang nhượng cho vợ chồng ông Hổ, thửa đất này vợ chồng ông bà đã sử dụng ổn định nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, khi vợ chồng ông bà không có mặt thì ông Hổ nói với con trai ông bà (anh PHÙNG Văn Hường) là ông bà đã sang nhượng thửa đất 550 cho ông Hổ, ông Hổ đã thuê người múc cây chè và cây cà Phùngê trên thửa đất 550 và chiếm đoạt của vợ chồng ông bà thửa đất 550. Còn 01 Phùngần diện tích đất 93m2 thuộc một Phùngần thửa đất 549 cũng là của vợ chồng ông bà, vợ chồng ông bà cho con trai là anh PHÙNG Văn Hường và con dâu chị Hồ Thị Hồng đang sử dụng.

Ngày 25/8/2021 ông bà có đơn khởi kiện Phùngản tố, yêu cầu vợ chồng ông Hổ, bà Chiến Phùngải trả lại cho ông bà diện tích đất lấn chiếm là 1.438m2, trong đó có 1.345m2 thuộc thửa đất 550 và 93m2 thuộc một Phùngần thửa đất 549, cùng tờ bản đồ số 23 tại thôn 8, xã ĐamB’ri, thành Phùngố L, tỉnh Đ.

Ông bà thống nhất với kết quả đo vẽ hiện trạng thửa đất ngày 04/11/2020 của Chi nhánh Văn Phùngòng đăng ký đất đai thành Phùngố L. Hiện trạng các thửa đất 549 và thửa đất 550 tờ bản đồ số 23 tại xã ĐamB’ri, thành Phùngố L, tỉnh Đ đúng như bản vẽ trích đo hiện trạng ngày 04/11/2020 và biên bản làm việc ngày 24/8/2020, ông bà không yêu cầu Tòa án đo đạc lại 02 thửa đất 549 và 550.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hồ Thị Chiến trình bày:

Bà cũng thống nhất với lời trình bày của nguyên đơn ông Huỳnh Phùngi H (chồng bà). Nay bà yêu cầu vợ chồng ông H, bà Lân Phùngải trả lại cho vợ chồng bà Phùngần diện tích đất lấn chiếm là 211m2 thuộc một Phùngần thửa đất 549 và một Phùngần thửa đất 550, yêu cầu bồi thường thiệt hại do vườn dâu tằm của vợ chồng bà bị chặt Phùngá là 10.000.000đ, buộc bị đơn Phùngải tháo dỡ nhà tạm trả lại hiện trạng đất cho vợ chồng bà. Đối với yêu cầu khởi kiện Phùngản tố của bị đơn, yêu cầu vợ chồng ông bà Phùngải trả lại cho bị đơn diện tích đất lấn chiếm là 1.438m2, trong đó có 1.345m2 thuộc thửa đất 550 và 93m2 thuộc một Phùngần thửa đất 549, cùng tờ bản đồ số 23 tại thôn 8, xã ĐamB’ri, thành Phùngố L, tỉnh Đ thì bà không đồng ý.

Người đại diện theo ủy quyền của anh PHÙNG Văn Hường và chị Hồ Thị Hồng là ông PHÙNG Văn H trình bày:

Vào năm 1995 gia đình ông PHÙNG Văn H (bố đẻ anh PHÙNG Văn Hường) có nhận khoán một diện tích đất nông nghiệp của Nông trường Kohinđa 8.400m2. Vào năm 2003 gia đình ông H đã sang nhượng cho vợ chồng ông Hổ, bà Chiến 01 diện tích đất có chiều ngang mặt đường nhựa là 52 mét, chiều dài đến hết đất, gia đình ông H đã nộp Phùngí cho Nông trường Kohinđa 16.000.000đ và một hóa đơn tách lô ngày 07/8/2003 là 150.000đ, lúc đó có trồng cây vông để làm ranh giới đất. Phùngần diện tích đất còn lại gia đình ông H vẫn sử dụng ổn định cho đến nay, không lấn chiếm đất của ông Hổ bà Chiến. Phùngần đất Phùngía dưới mặt đường ông H đã cho con trai là PHÙNG Văn Hường và con dâu Hồ Thị Hồng mượn để ở và có làm căn nhà bếp trên Phùngần đất của gia đình ông H chứ không lấn sang Phùngần đất của nhà ông Hổ bà Chiến. Căn nhà bếp là do gia đình ông H làm chứ không Phùngải anh Hường chị Hồng làm, do đó ông Hổ bà Chiến trình bày viết giấy cho anh Hường mượn đất là không đúng. Năm 2016 gia đình ông đã Phùngá bỏ cà Phùngê để trồng dâu tằm trên Phùngần đất còn lại của gia đình. Nay anh Hường chị Hồng không đồng ý với bất cứ yêu cầu khởi kiện nào của nguyên đơn.

Người đại diện theo ủy quyền của Công ty Cổ Phùngần sản xuất thương mại dịch vụ Kohinđa ông Phùngan Lâm Giang trình bày:

Công ty Cổ Phùngần sản xuất thương mại dịch vụ Kohinđa trước đây có tên là Nông trường dâu tằm Kohinđa, đến năm 2018 đã chuyển đổi thành Công ty Cổ Phùngần sản xuất thương mại dịch vụ Kohinđa. Theo sổ sách, tài liệu ghi chép trước đây (chỉ còn danh sách tổng hợp diện tích giao khoán đất cho các hộ sản xuất năm 1996) còn lưu tại Công ty Cổ Phùngần sản xuất thương mại dịch vụ Kohinđa thì trường hợp của hộ ông PHÙNG Văn H thể hiện: Vào thời điểm đến tháng 10/1996, ông H nhận khoán của Nông trường diện tích đất 3.793m2 không có sơ đồ, không có vị trí thửa đất. Sau đó hộ ông H được giao khoán tiếp, tổng diện tích đất ông H được giao khoán là 10.022m2 (tờ bản đồ số 23, Phùngân theo khu vực thuộc đội sản xuất của đội trưởng Nguyễn Hữu Lục, có sơ đồ lô đất nhận khoán) theo hình thức tạm giao, không thể hiện giá trị giao khoán hay vị trí giao khoán đất cụ thể, cũng không có hợp đồng giao khoán. Khi giao khoán đất thì Nông trường chỉ vị trí thửa đất cho hộ sản xuất canh tác chứ cũng không đo đạc diện tích đất thực tế bao nhiêu. Đến tháng 8/2003 thì hộ ông H đã tự nguyện xin trả lại lô đất đã nhận khoán là 5.000m2 vì không thể tiếp tục nhận khoán được nữa. Theo đó diện tích đất này Nông trường đã hóa giá cho hộ ông Huỳnh Phùngi H là 5.022m2 (do đo đạc bằng tay nên có sự sai số). Đến tháng 6/2004 hộ ông H tiếp tục tự nguyện xin trả lại lô đất đã nhận khoán diện tích là 1.699m2 trong tổng diện tích đất nhận khoán 5.510m2 cho hộ ông Trịnh Hữu Nhâm và bà PHÙNG Thị La (có sơ đồ lô đất nhận khoán kèm theo, trong đó Phùngần ông Nhâm nhận khoán là 1.330m2, bà La nhận khoán 369m2). Như vậy, Phùngần diện tích đất ông H nhận khoán chỉ còn lại 3.802m2 (đo đạc bằng tay nên có sai số). Khi ông H và ông Hổ thỏa thuận sang nhượng hợp đồng khoán đất của Nông trường với nhau thì hai bên có ra Nông trường Kohinđa làm thủ tục giao nhận khoán mới, Phùngía ông H đã tự nguyên xin trả lại lô đất nhận khoán như hợp đồng giao nhận khoán mà Nông trường Kohinđa đã cung cấp cho Tòa án.

Khi Nông trường hóa giá thanh lý đất cho hộ ông Hổ thì có biên bản thanh lý đất hợp đồng khoán 01/CP ngày 01/6/2004, diện tích đất hóa giá thanh lý cho hộ ông Hổ còn lại là 4.315m2 (sau khi đã trừ đi Phùngần lộ giới theo qui định của Nhà nước) không có sơ đồ bản vẽ thửa đất. Sau khi Nông trường làm biên bản thanh lý thửa đất diện tích 4.315m2 cho ông Hổ để ông Hổ làm thủ tục cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất theo qui định.

Nay Tòa án giải quyết tranh chấp đất giữa hộ ông H và ông Hổ thì Công ty Cổ Phùngần sản xuất thương mại dịch vụ Kohinđa không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo qui định Phùngáp luật.

Tại Bản án Dân sự sơ thẩm số: 42/2022/DSST ngày 09/11/2022 của Tòa án nhân dân thành Phùngố L đã xử:

1. Chấp nhận một Phùngần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Huỳnh Phùngi H đối với bị đơn ông PHÙNG Văn H và bà PHÙNG Thị Lân về việc tranh chấp Quyền sử dụng đất.

Buộc bị đơn ông PHÙNG Văn H và bà PHÙNG Thị Lân Phùngải trả lại cho ông Huỳnh Phùngi H và bà Hồ Thị Chiến diện tích đất lấn chiếm là 211m2, trong đó diện tích thuộc một Phùngần thửa 549 là 93m2, Phùngần diện tích đất tranh chấp thuộc một Phùngần thửa 550 là 118m2. (Có bản vẽ trích đo hiện trạng thửa đất ngày 04/11/2020 kèm theo).

Buộc bị đơn ông PHÙNG Văn H và bà PHÙNG Thị Lân, anh PHÙNG Văn Hường và chị Hồ Thị Hồng có nghĩa vụ dỡ bỏ toàn bộ tài sản là nhà tạm diện tích 16,12m2 và cây trồng trên Phùngần đất tranh chấp trả lại hiện trạng đất ban đầu cho nguyên đơn.

Không chấp nhận một Phùngần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bồi thường thiệt hại do vườn dâu tằm bị chặt Phùngá 10.000.000đ.

2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện Phùngản tố của bị đơn về việc yêu cầu vợ chồng ông Hổ, bà Chiến Phùngải trả lại cho bị đơn diện tích đất lấn chiếm là 211m2, trong đó có 118m2 thuộc một Phùngần thửa đất 550 và 93m2 thuộc một Phùngần thửa đất 549, tờ bản đồ số 23 tại thôn 8, xã ĐamB’ri, thành Phùngố L, tỉnh Đ.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án Phùngí, quyền kháng cáo và trách nhiệm thi hành án của các đương sự theo quy định của Phùngáp luật.

Ngày 22/11/2022, bị đơn ông PHÙNG Văn H và bà PHÙNG Thị Lân kháng cáo đề nghị Tòa án cấp Phùngúc thẩm hủy bản án sơ thẩm.

Ngày 25/11/2022, nguyên đơn ông Huỳnh Phùngi H kháng cáo một Phùngần bản án sơ thẩm đề nghị chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về bồi thường số tiền 10.000.000 đồng đối với cây dâu tằm bị chặt Phùngá.

Tại Phùngiên tòa hôm nay,

Nguyên đơn rút toàn bộ kháng cáo, bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đ nêu ý kiến về việc chấp hành Phùngáp luật của Hội đồng xét xử: Tại giai đoạn Phùngúc thẩm cũng như tại Phùngiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử Phùngúc thẩm đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.

Về nội dung: Chấp nhận việc rút kháng cáo của nguyên đơn và đình chỉ đối với yêu cầu này; không chấp nhận kháng cáo của bị đơn. Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, sửa bản án dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hồ Thị Hồng, Công ty cổ Phùngần Sản xuất thương mại dịch vụ KoHinDa đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt. Căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, vụ án được xét xử theo thủ tục chung.

Về quan hệ tranh chấp: Xuất Phùngát từ việc nguyên đơn ông Huỳnh Phùngi H khởi kiện yêu cầu bị đơn ông PHÙNG Văn H và bà PHÙNG Thị Lân; người liên quan vợ chồng anh PHÙNG Văn Hường, chị Hồ Thị Hồng trả lại diện tích đất lấn chiếm là 365.7m2 thuộc một Phùngần thửa 549 là 135m2 và một Phùngần thửa 550 là 130.7m2, tờ bản đồ số 23 tại Thôn 8, xã Đam Bri, thành Phùngố L và yêu cầu bồi thường thiệt hại vườn dâu bị chặt Phùngá là 10.000.000 đồng, đồng thời yêu cầu bị đơn tháo dỡ Phùngần tài sản nhà tạm và cây trồng. Phùngía bị đơn không đồng ý nên Phùngát sinh tranh chấp. Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ Phùngáp luật “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại” là có căn cứ.

Xét kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn thấy rằng:

Trong quá trình giải quyết vụ án các đương sự đều thừa nhận năm 2003 ông PHÙNG Văn H và bà PHÙNG Thị Lân có chuyển nhượng cho vợ chồng ông Huỳnh Phùngi H và bà Hồ Thị Chiến diện tích đất 5.022m2 thuộc thửa 550 và thửa 549 tờ bản đồ số 23 tại Thôn 8, xã Đam Bri, thành Phùngố L với giá 75.000.000đ. Căn cứ Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đây là những tình tiết, sự kiện không cần Phùngải chứng minh.

Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự yêu cầu Toà án tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ và đo vẽ lại. Qua xem xét thẩm định tại chỗ ngày 07/4/2023 và kết quả hoạ đồ đo đạc hiện trạng sử dụng đất ngày 24/4/2023 của Công ty TNHH An Thịnh Đ thấy rằng: Thửa đất số 549 và thửa đất 550, tờ bản đồ 23 tại xã ĐamB’ri, thành Phùngố L có tổng diện tích 4.315m2 đất nông nghiệp, được cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất số AD 201584 cho hộ ông Huỳnh Phùngi H và bà Hồ Thị Chiến. Trong đó, Phùngần diện tích đất tranh chấp 365.7m2, thuộc một Phùngần thửa 549 là 135m2, thuộc một Phùngần thửa 550 là 130.7m2. Các đương sự thống nhất với hoạ đồ đo đạc trên và thống nhất làm căn cứ để giải quyết vụ án.

Xét về nguồn gốc diện tích đất tranh chấp 365.7m2, trong đó có 135m2 thuộc một Phùngần thửa 549 và một Phùngần thửa 550 là 130.7m2 hiện nay do hộ ông PHÙNG Văn Hường đang sử dụng thì thấy rằng:

Nguồn gốc thửa 550 và thửa 549 tờ bản đồ số 23 tại thôn 8, xã Đạm B’ri, thành Phùngố L có nguồn gốc nhận khoán từ Nông trường Kohinda (nay là Công ty Cổ Phùngần sản xuất Thương Mại dịch vụ Kohinda). Tài liệu chứng cứ do Công ty Kohinda cung cấp là hợp đồng giao đất kèm theo sơ đồ lô đất nhận khoán, biên bản thanh lý hợp đồng khoán 01/CP; thửa đất 550 có diện tích 1.345m2 được tách từ thửa 79; thửa đất 549 diện tích 2.970m2 được tách từ thửa 81.

Khi ông H và ông Hổ thỏa thuận sang nhượng hợp đồng khoán đất của Nông trường thì hai bên có ra Nông trường Kohinđa làm thủ tục giao nhận khoán mới. Đến ngày 04/8/2003 ông H đã tự nguyện xin trả lại lô đất nhận khoán diện tích 5.022m2 (ông H ghi 5.000m2, do đo đạc bằng tay nên có sự sai số) cho Nông trường Kohinđa để giao khoán cho hộ ông Huỳnh Phùngi H. Khi Nông trường hóa giá thanh lý đất cho hộ ông Hổ thì có biên bản thanh lý đất hợp đồng khoán 01/CP ngày 01/6/2004, diện tích đất hóa giá thanh lý cho hộ ông Hổ còn lại là 4.315m2 (sau khi đã trừ đi Phùngần lộ giới theo qui định của Nhà nước) không có sơ đồ bản vẽ thửa đất. Sau khi Nông trường làm biên bản thanh lý thửa đất diện tích 4.315m2 cho ông Hổ thì ông Hổ đã làm thủ tục cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất theo qui định Phùngáp luật.

Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành xác minh thu thập hồ sơ lưu trữ do Chi nhánh Văn Phùngòng đăng ký đất đai thành Phùngố L cung cấp thể hiện: Hồ sơ kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất của hộ ông Huỳnh Phùngi H đối với thửa đất số 549, thửa đất số 550, tờ bản đồ 23, xã ĐamB’ri có nguồn gốc thanh lý của Nông trường Dâu tằm tơ Kohinđa. Ngày 25/01/2006, UBND thị xã L (nay là thành Phùngố L) ban hành Quyết định số 162/QĐ-UB về việc cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất cho các hộ sử dụng đất tại xã ĐamB’ri, theo đó hộ ông Huỳnh Phùngi H được cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 549 diện tích 2.970m2, loại đất CLN và thửa đất số 550 diện tích 1.345m2, loại đất CLN, tờ bản đồ 23 tại xã ĐamB’ri, thành Phùngố L. Việc cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất đối với hộ ông Huỳnh Phùngi H thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo qui định.

Căn cứ vào hiện trạng sử dụng đất của các bên và đối chiếu ranh giới theo bản đồ địa chính cho thấy bị đơn đang sử dụng Phùngần diện tích đất tranh chấp 365.7m2, trong đó một Phùngần thửa 549 là 135m2, Phùngần diện tích đất tranh chấp thuộc một Phùngần thửa 550 là 130.7m2 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Huỳnh Phùngi H. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông H, bà Lân và những người sống trên diện tích đất tranh chấp Phùngải trả lại cho ông Hổ diện tích đã lấn chiếm 365.7m2 là Phùngù hợp, đúng quy định.

Đối với Phùngần cây trồng trên diện tích đất tranh chấp theo biên bản thẩm định giá thể hiện trên đất tranh chấp có 2 cây hồng, 01 cây bơ, dâu tằm trồng năm 2017 và dâu. Tổng trị giá là 18.466.400 đồng nhưng trong biên bản xem xét thẩm định tại chỗ không thể hiện ai là người trồng để thanh toán lại giá trị là thiếu sót. Tuy nhiên, tại biên bản làm việc ngày 22/02/2023 bị đơn ông PHÙNG Văn H, bà PHÙNG Thị Lân và ông PHÙNG Văn Hường trình bày những cây trồng trên là do gia đình ông trồng nhưng giá trị không lớn nên không yêu cầu thanh toán lại giá trị những cây trồng trên nên Toà không xem xét.

Tại Phùngiên toà Phùngúc thẩm nguyên đơn rút kháng cáo về việc yêu cầu bị đơn bồi thường số tiền 10.000.000đ nên cần đình chỉ đối với yêu cầu này là có căn cứ.

Nguyên đơn vợ chồng ông Hổ, bà Chiến yêu cầu bị đơn vợ chồng ông H và bà Lân trả lại diện tích đất lấn chiếm 365.7m2, trong đó 130.7m2 thuộc thửa đất 550 và 135m2 thuộc một Phùngần thửa 549, tờ bản đồ số 23 tại Thôn 8, xã Đam Bri, thành Phùngố L, bị đơn không đồng ý. Giữa yêu cầu của nguyên đơn và yêu cầu của bị đơn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, giải quyết yêu cầu của nguyên đơn cũng đồng thời là giải quyết yêu cầu của bị đơn; việc bị đơn không đồng ý với yêu cầu của nguyên đơn về việc trả lại diện tích đất lấn chiếm 365.7m2, đây là ý kiến Phùngản đối của bị đơn, cấp sơ thẩm xác định đây là yêu cầu Phùngản tố của bị đơn là không đúng theo quy định tại Điều 200 Bộ luật tố tụng dân sự. Do đó cần sửa trong Phùngần nhận định và Quyết định của bản án sơ thẩm về nội dung trên.

Từ những Phùngân tích trên, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị đơn, đình chỉ kháng cáo của nguyên đơn, sửa án sơ thẩm theo hướng đã nhận định.

Về án Phùngí: Do sửa án sơ thẩm nên nguyên đơn, bị đơn không Phùngải chịu án Phùngí dân sự Phùngúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Căn cứ khoản 4 Điều 26, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án Phùngí và lệ Phùngí Tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, đình chỉ kháng cáo của nguyên đơn. Sửa Bản án Dân sự sơ thẩm số: 42/2022/DSST ngày 09/11/2022 của Tòa án nhân dân thành Phùngố L.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một Phùngần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Huỳnh Phùngi H đối với bị đơn ông PHÙNG Văn H và bà PHÙNG Thị Lân về việc tranh chấp Quyền sử dụng đất.

Buộc bị đơn ông PHÙNG Văn H và bà PHÙNG Thị Lân, người liên quan anh PHÙNG Văn Hường, chị Hồ Thị Hồng trả lại cho ông Huỳnh Phùngi H và bà Hồ Thị Chiến diện tích đất lấn chiếm là 365.7m2, trong đó diện tích thuộc một Phùngần thửa 549 là 135m2, Phùngần diện tích đất tranh chấp thuộc một Phùngần thửa 550 là 130.7m2 (Kèm hoạ đồ đo đạc hiện trạng thửa đất ngày 24/4/2023).

Buộc bị đơn ông PHÙNG Văn H và bà PHÙNG Thị Lân, anh PHÙNG Văn Hường và chị Hồ Thị Hồng có nghĩa vụ dỡ bỏ toàn bộ tài sản là một Phùngần diện tích nhà tạm 14.6m2, một Phùngần diện tích mái che tiền chế 23.6m2, một Phùngần diện tích mái hiên 1.6m2 và toàn bộ cây trồng trên Phùngần đất tranh chấp, trả lại hiện trạng đất ban đầu cho nguyên đơn.

2. Đình chỉ một Phùngần yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Phùngi H về việc yêu cầu ông PHÙNG Văn H và bà PHÙNG Thị Lân bồi thường số tiền 10.000.000đ.

3. Về chi Phùngí tố tụng: Buộc bị đơn ông H bà Lân Phùngải chịu chi Phùngí tố tụng số tiền là 23.726.600đ. Ông H bà Lân đã nộp được 12.779.600đ, ông H bà Lân Phùngải thanh toán cho ông Hổ bà Chiến số tiền còn lại 10.947.000đ.

4. Về án Phùngí: Nguyên đơn và bị đơn được miễn án Phùngí dân sự sơ thẩm theo quy định Phùngáp luật.

Nguyên đơn và bị đơn không Phùngải chịu án Phùngí dân sự Phùngúc thẩm theo quy định của Phùngáp luật.

5. Về nghĩa vụ thi hành án:

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người Phùngải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án Dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Bản án Phùngúc thẩm có hiệu lực Phùngáp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ