- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Đoàn Thị Thanh T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung m…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đoàn Thị Thanh T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự xử phạt; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 89/2022/HSST Ngày: 27-12-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Mỹ Dung
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Cường
2. Bà Huỳnh Thị Chi
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Kim Dung, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Công - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 92/2022/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 86/2022/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 12 năm 2022 đối với bị cáo:
- Họ và tên bị cáo: Đoàn Thị Thanh T, sinh năm 1987; tên gọi khác: Không; giới tính: Nữ; nơi sinh: Trà Vinh; nơi cư trú: Số 166B, khóm H, đường V, Phường N, thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; con ông Đoàn Thanh T (đã chết) và bà Phòng Thị T1, sinh năm 1967; bị cáo chưa có chồng con; anh chị em ruột: có 02 người, người lớn nhất là bị cáo và nhỏ nhất sinh năm 1995; tiền sự: Không có; tiền án: 01 lần: Ngày 19/8/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh xử phạt 02 (Hai) năm tù về tội "Trộm cắp tài sản", đã chấp hành xong.
Nhân thân:
- Ngày 28/4/2005 bị Tòa án nhân dân thị xã Trà Vinh (nay là thành phố Trà Vinh) xử phạt 05 (năm) năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy.
- Ngày 30/9/2011 bị Ủy ban nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
- Ngày 21/4/2015 bị Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xử phạt 03 (ba) năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy.
- Ngày 10/4/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.
- Ngày 18/11/2019 bị Công an phường 5, thành phố Trà Vinh xử phạt 1.500.000đ (Một triệu năm trăm ngàn đồng) về hành vi Trộm cắp tài sản, đến nay đã hết thời hiệu thi hành.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/8/2022 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Ông Từ Nam H, sinh năm 1988, nơi cư trú: Số 770 đường Đ, Phường S, thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt)
Bà Phòng Thị T, sinh năm 1967, nơi cư trú: Số 166B khóm H, đường V, Phường N, thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 19/8/2022 Đội cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Vĩnh Long kết hợp với Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Vĩnh Long và Công an phường 1, thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long tuần tra trên địa bàn phường 1, thành phố Vĩnh Long. Khi đến khu vực bờ kè công viên sông Tiền thuộc tổ 1, khóm Lê Văn Tám, đường Tô Thị Huỳnh, phường 1, thành phố Vĩnh Long thì phát hiện Từ Nam H điều khiển xe mô tô biển số 84H3-3939 chở Đoàn Thị Thanh T có biểu hiện nghi vấn tàng trữ trái phép chất ma túy nên yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện trong túi quần phía sau, bên phải của T có 01 (một) gói giấy màu vàng bên trong có một cục bột màu trắng và có 01 (một) đoạn ống nhựa trong suốt hàn kín hai đầu, bên trong có chứa chất tinh thể trong suốt, nghi vấn đều là chất ma túy. Bị cáo T khai gói giấy màu vàng bên trong có một cục chất bột màu trắng là chất ma túy, loại heroine và chất tinh thể trong suốt bên trong đoạn ống nhựa trong suốt hàn kín hai đầu là chất ma túy, loại Methamphetamine của bị cáo T. Lực lượng Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với bị cáo T và thu giữ toàn bộ vật chứng có liên quan.
Tại Bản cáo trạng số: 92/CT-VKS-TPVL ngày 29/11/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long đã truy tố bị cáo Đoàn Thị Thanh T ra trước Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long để xét xử về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo T thừa nhận các lời khai trong quá trình điều tra do bị cáo tự khai, không bị ai ép buộc và thừa nhận hành vi phạm tội đúng như cáo trạng đã truy tố. Mục đích bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân bị cáo, bị cáo thống nhất với kết luận giám định.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Phòng Thị T vắng mặt tại tòa nhưng lời khai có tại hồ sơ thể hiện: Bà T1 là chủ sở hữu xe mô tô biển số 84H3-3939, bà không biết bị cáo T sử dụng xe đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho bà Vân.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Từ Nam H vắng mặt tại tòa nhưng lời khai có tại hồ sơ thể hiện: Anh H không biết và không liên quan đến hành vi bị cáo T tàng trữ ma túy. Tuy nhiên, anh H có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an thành phố Vĩnh Long đã ra quyết định xử phạt hành chính 1.500.000đ.
Lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đã khẳng định nội dung mà bản cáo trạng Viện kiểm sát đã đề nghị truy tố bị cáo Đoàn Thị Thanh T ra trước Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long để xét xử về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đủ căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật và giữ nguyên quyết định truy tố.
Kiểm sát viên nhận định đây là vụ án có tính chất nghiêm trọng, bị cáo thực hiện tội phạm với lỗi cố ý. Xét thấy ma túy là chất nguy hiểm, do Nhà nước trực tiếp quản lý và cấm sử dụng nhưng bản thân bị cáo vẫn mua để sử dụng là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ chất ma túy là sai trái nhưng vì nhu cầu sử dụng trái phép chất ma túy của bản thân mà bị cáo vẫn thực hiện tội phạm. Do đó cần phải xử lý nghiêm hành vi phạm tội của bị cáo để giáo dục cho bị cáo sửa chữa sai lầm và phòng ngừa chung cho xã hội. Bị cáo là người nghiện nhiều lần đưa đi cai nghiện nhưng không từ bỏ được do chất ma túy là chất gây nghiện nặng nên bị cáo trực tiếp mua ma túy để sử dụng, bản thân bị cáo có nhân thân xấu, khi quyết định hình phạt cần xem xét các tình tiết: Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội khi chưa xóa án tích là tình tiết tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Từ những cơ sở trên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Thảo phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" và áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo T mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị căn cứ Điều 46 và 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu 01 gói niêm phong sau giám định để tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo mua ma túy để sử dụng và bản thân không có nghề nghiệp nên đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Bị cáo không tranh luận gì với Kiểm sát viên.
Lời nói sau cùng của bị cáo T: Bị cáo xin giảm nhẹ mức hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Vĩnh Long, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Về tội danh: Căn cứ vào biên bản bắt người phạm tội quả tang (BL15-16), lời khai của bị cáo, Kết luận giám định số 589/KL-KTHS (BL 22) đủ căn cứ xác định: Lúc 08 giờ ngày 19/8/2022 tại khu vực bờ kè công viên sông Tiền thuộc tổ 1, khóm L, đường H, phường M, thành phố Vĩnh Long bị cáo T có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có khối lượng 0,2149 gam, loại Heroin và chất ma túy có khối lượng 0,0217 gam, loại Methamphetamine để sử dụng. Hành vi bị cáo cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Viện kiểm sát truy tố bị cáo T theo tội danh, điều, khoản điểm trên là có căn cứ.
Xét tính chấ t mứ c độ hành vi phạm tội của bị cáo T đã thực hiện nguy hiểm cho xã hộ i, gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự ở địa phương, làm ả nh hư ở ng tớ i sứ c khỏ e con ngư ờ i, là nguyên nhân dẫ n đế n các loạ i tộ i phạ m khác, là tệ nạ n xã hộ i cầ n phả i bài trừ , cần phải xử lý nghiêm bị cáo bằ ng pháp luậ t hình sự nhằm giáo dục răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo đã bị kết án và chưa được xóa án tích mà thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên phải áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã phạm tội bị kết án, chưa xóa án tích nhưng không chịu cải sửa lại tiếp tục phạm tội do cố ý. Để đảm báo tính nghiêm minh của pháp luật, giáo dục cho bị cáo, phòng ngừa tội phạm cần phải áp dụng hình phạt tù giam đối với bị cáo.
Bị cáo T mua ma túy mục đích để sử dụng và không có nghề nghiệp, thu nhập nên miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Đối với người thanh niên bán ma túy cho bị cáo do bị cáo khai không biết tên tuổi, địa chỉ cụ thể ở đâu nên Cơ quan điều tra không đủ căn cứ xử lý.
Đối với Từ Nam H do không biết và không liên quan đến việc tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý.
Về xử lý vật chứng: Đối với xe mô tô biển số 84H3-3939 có chủ sở hữu là bà Phòng Thị T1, mẹ ruột của bị cáo. Bà T1 không biết bị cáo sử dụng xe đi mua ma túy nên Cơ quan điều tra đã hoàn trả xe cho bà T1, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết. Đối với 01 gói niêm phong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định là vật nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long là có cơ sở chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo T phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Đoàn Thị Thanh T phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Xử phạt bị cáo Đoàn Thị Thanh T 02 (Hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu 01 (một) gói niêm phong chứa mẫu vật hoàn lại sau giám định để tiêu hủy (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 30/11/2022 của Chi cục Thi hành án thành phố Vĩnh Long).
3. Áp dụng Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Buộc bị cáo Đoàn Thị Thanh T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - Tòa án tỉnh Vĩnh Long; - Viện Kiểm sát tỉnh Vĩnh Long; - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Long; - Phòng hồ sơ Công an tỉnh Vĩnh Long; - Công an TPVL; - Viện Kiểm Sát TPVL; - Chi cục Thi hành án TPVL; - Bị cáo và Trại giam; - Lưu hồ sơ. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Võ Thị Mỹ Dung |