vanban.org

Bản án 89/2022/HSST — Hình sự

TAND huyện Đông Anh, TP. Hà Nội Tuyên án 14/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh và hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Đỗ Thị T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Xử phạt: Bị cáo Đỗ Thị T 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, được trừ thời gian đã tạm giữ từ ngày 07/02/2022 đến ngày 16/02/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Thị T - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh và hình phạt:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐA
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 89/2022/HSST
Ngày 14/6/2022.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐA – THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ Phiên toà: Ông Trần Trung Trực

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Mai

2. Ông Nguyễn Hữu Đệ

- Thư ký phiên toà: Ông Thịnh Quang Trung – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện ĐA.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện ĐA, Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: bà Đỗ Lê T - Kiểm sát viên.

Ngày 14/6/2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện ĐA, Thành phố Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 76/2022/TLST-HS ngày 26 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2022/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Đỗ Thị T, sinh ngày 19/6/2000 tại Vĩnh Phúc; giới tính: nữ; Hộ khẩu thường trú và nơi ở: thôn AD, xã BL, huyện SL, tỉnh Vĩnh Phúc; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông: Đỗ Duy T1 và bà Lê Thị X; Về nhân thân: theo trích lục tiền án, tiền sự số 3419044/2022/PV06 ngày 05/4/2022 và lý lịch bị can thì bị cáo không có tiền án, tiền sự.

Bị cáo bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, bị tạm giữ từ ngày 07/02/2022 đến ngày 16/02/2022. Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn “cấm đi khỏi nơi cư trú”. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 16h30’ ngày 07/02/2022, Công an xã VN – Công an huyện ĐA làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát tại thôn Ngọc Chi, xã VN, huyện ĐA, TP Hà Nội phát hiện bị cáo Đỗ Thị T có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra, khám người theo thủ tục hành chính, đã phát hiện thu giữ 01 (một) điện thoại Oppo, vỏ màu hồng tại lòng bàn tay phải của Đỗ Thị T và T tự nguyện giao nộp 01 (một) túi nilon trong suốt kích thước (4x8) cm chứa 06 viên nén màu xanh lam lấy từ trong quần lót đang mặc.

Đấu tranh khai thác tại chỗ, T khai nhận 06 (sáu) viên nén màu xanh lam bên trong túi nilon kích thước (4x8) cm là ma túy “kẹo”, T mang theo để giao bán cho một người phụ nữ tên “Trâm” tại huyện ĐA.

Tổ công tác tiến hành lập các biên bản khám người theo thủ tục hành chính, tạm giữ, niêm phong vật chứng và đưa Đỗ Thị T về trụ sở để điều tra làm rõ.

Tại Cơ quan điều tra, Đỗ Thị T khai nhận: Chiều ngày 06/02/2022, T đến thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc chơi đến 14h00’ ngày 07/02/2022, T nhận được các cuộc gọi và tin nhắn từ tài khoản zalo tên “Tiểu Muội” của một người phụ nữ tên T2 (không rõ nhân thân lai lịch) đặt vấn đề mua 06 viên ma túy “kẹo”. Sau đó, T hỏi bạn bè trên zalo để tìm người bán ma túy “kẹo” thì được một người phụ nữ có tài khoản zalo tên “Huyền Huyền” gọi đến tài khoản zalo "Joli” của T. Người phụ nữ này hỏi T: “Em lấy kẹo phải không ?”, T nói: “Vâng, em lấy 06 viên”. Người phụ nữ báo giá 06 viên ma túy “kẹo” là 2.400.000 đồng và bảo T trực tiếp đi lấy ma túy theo chỉ dẫn của người này. Đến khoảng 15h00’ cùng ngày, T thuê xe taxi đến một đoạn ngã ba (không rõ địa danh) thuộc Thành phố Vĩnh Yên gặp người phụ nữ đội mũ, đeo khẩu trang đang đứng đợi ven đường. T đưa cho người phụ nữ này 2.400.000 đồng, người phụ nữ này đưa cho T 01 (một) túi nilon trong suốt chứa 06 viên ma túy “kẹo”. Mua được ma túy, T sử dụng tài khoản zalo “Joli” liên lạc với tài khoản zalo “Tiểu Muội” của người phụ nữ tên T2 thỏa thuận thống nhất giá bán 06 (sáu) viên ma túy “kẹo” là 4.000.000 đồng và phí giao ma túy là 1.000.000 đồng.

T thuê xe taxi đi theo định vị do T2 gửi qua zalo đến đoạn đầu cầu Nhật Tân, rồi đi bộ đến sảnh khách sạn “Nhật Tân” thuộc thôn Ngọc Chi, xã VN, huyện ĐA để giao bán 06 viên ma túy “kẹo” thì bị Cơ quan Công an kiểm tra phát hiện và bắt giữ.

Ngày 16/02/2022, Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hà Nội có bản kết luận giám định số 857/KLGĐ-PC09 kết luận: 06 (sáu) viên nén màu xanh lam bên trong 01 túi nilon đều là ma túy loại MDMA, tổng khối lượng 2,488 gam.

Đối với người phụ nữ có tài khoản zalo tên “Huyền Huyền”, là người bán ma túy cho T, T trình bày người này khoảng 25 – 30 tuổi, đeo khẩu trang và đội mũ bảo hiểm khi bán ma túy cho T, T không biết tên tuổi địa chỉ, không rõ nhân thân lai lịch của người này. T cũng không nhớ và không biết địa danh tại nơi đã mua ma túy. Do vậy, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh làm rõ.

Đối với người phụ nữ tên T2, có tài khoản zalo tên “Tiểu Muội”, là người hỏi mua ma túy T ngày 07/02/2022, T trình bày gặp T2 cách đây khoảng 01 năm tại nhà một người bạn, sau đó kết bạn zalo với T2 nhưng không lưu số điện thoại. T không biết họ tên thật và địa chỉ, nhân thân lai lịch của T2. T mới gặp lại T2 vào tháng 12/2021 ở thành phố Bắc Ninh. Cơ quan điều tra không có đủ căn cứ để xác minh làm rõ.

Đối với hai người lái xe taxi chở T ngày 07/02/2022, T trình bày không biết nhân thân, lai lịch, không nhớ đặc điểm nhận dạng của hai người này cũng như biển kiểm soát xe taxi, xe không dán logo, không rõ hãng xe nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để làm rõ.

Tại bản Cáo trạng số 75/CT-VKSĐA ngày 16/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐA đã Quyết định truy tố bị cáo Đỗ Thị T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại Phiên tòa:

Bị cáo Đỗ Thị T khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu. Bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện ĐA giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng Khoản 1 Điều 251; điểm s, Khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ Luật Hình sự. Xử phạt: bị cáo Đỗ Thị T từ 42 tháng đến 45 tháng tù.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo T vì bị cáo là không có nghề nghiệp ổn định.

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong có một túi nilon trong suốt chứa 06 viên nén màu xanh lam (ma túy MDMA), phòng PC09 thu mẫu giám định 0,579 gam là vật chứng vụ án. Tịch thu tiêu hủy 01 sim điện thoại.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo A1601 vỏ màu hồng thu giữ của bị cáoThanh là phương tiện sử dụng vào việc phạm tội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về hành vi và tội danh của bị cáo: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ để kết luận: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 07/02/2022, Đỗ Thị T đã có hành vi mua 06 viên ma túy loại MDMA, khối lượng 2,488 gam để bán cho một người phụ nữ tên T2 với giá 4.00.000 đồng và phí giao ma túy là 1.000.000 đồng nhằm được hưởng lợi 2.600.000 đồng, khi T chưa kịp giao ma túy cho người phụ nữ tên T2 thì bị Cơ quan Công an bắt giữ. Quá trình điều tra chỉ chứng minh được bị cáo lần đầu bán ma túy.

Như vậy hành vi của bị cáo Đỗ Thị T đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, được quy định tại Khoản 1, Điều 251 Bộ luật hình sự. Điều luật quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm….”

Hành vi Mua bán trái phép chất ma túy là nguy hiểm cho xã hội vì chẳng những đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý và chất gây nghiện khác, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội, mà còn làm gia tăng các tệ nạn về ma tuý và các loại tội phạm khác trên địa bàn thành phố Hà Nội nói chung, huyện ĐA nói riêng. Ma túy với một tác hại khôn lường do sức tàn phá của nó, chính vì vậy mà Nhà nước và cả cộng đồng xã hội ra sức tìm cách bài trừ. Bị cáo nhận thức được điều này, song do hám lợi nên vẫn cố tình phạm tội. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt tù nghiêm mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung, nhằm hạn chế các loại tội phạm.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải do vậy cần áp dụng điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự; căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử thấy cần phải áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian với mức hình phạt thấp hơn Viện kiểm sát đề nghị là thỏa đáng.

Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Quá trình điều tra Cơ quan điều đã thu giữ:

- 01 phong bì niêm phong bên trong có một túi nilon trong suốt chứa 06 viên nén màu xanh lam (ma túy MDMA), phòng PC09 thu mẫu giám định 0,579 gam và 01 sim điện thoại là vật chứng vụ án nên cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo A1601 vỏ màu hồng là phương tiện sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm; Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Các cơ quan tiến hành tố tụng của huyện ĐA thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về thẩm quyền và các quy định khác về điều tra, truy tố và xét xử. Kết luận điều tra của công an ĐA, Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện ĐA và đề nghị hình phạt áp dụng với bị cáo là đúng, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và tương đối phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh và hình phạt:

- Tuyên bố bị cáo Đỗ Thị T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 251, Điều 38; Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015:

Xử phạt: Bị cáo Đỗ Thị T 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, được trừ thời gian đã tạm giữ từ ngày 07/02/2022 đến ngày 16/02/2022.

2. Về xử lý vật chứng, án phí:

- Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án xử:

Tịch thu vào ngân sách nhà nước điện thoại nhãn hiệu Oppo A1601 vỏ màu hồng.

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong có một túi nilon trong suốt chứa 06 viên nén màu xanh lam (ma túy MDMA), phòng PC09 thu mẫu giám định 0,579 gam; 01 sim điện thoại.

(Tình trạng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 16/5/2022 giữa Công an huyện ĐA, thành phố Hà Nội và Chi cục thi hành án dân sự huyện ĐA, Thành phố Hà Nội).

Bị cáo Đỗ Thị T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ