- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn văn O - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn O phạm Tội đánh bạc
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 89/2022/HSST Ngày: 28/10/2022. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Thanh;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Đức Hòa;
Ông Phạm Thành Đô
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Quốc Hải – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tham gia phiên tòa: Ông Dương Thế Nam - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 10 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 84/2022/HSST ngày 12 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 246/2022/QĐXXST– HS ngày 17 tháng 10 năm 2022, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn O, sinh năm 1974, tại tỉnh Đồng Nai.
Nơi thường trú: Ấp x, xã X, huyện Xc, tỉnh Đồng Nai.
Nơi ở hiện tại: Thôn S, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước.
Nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ văn hóa: 0 /12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn N và bà Nguyễn Thị T; bị cáo có vợ và 01 người con, sinh năm 2002; tiền sự: Không
Tiền án: Ngày xx/02/2004, bị Tòa án nhân dân huyện X, tỉnh Đồng Nai xử phạt 18 tháng tù về Tội trộm cắp tài sản. Bị cáo đã chấp hành xong hình phạt nhưng chưa chấp hành án phí dân sự và hình sự sơ thẩm.
Bị cáo tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/8/2022 cho đến nay, (có mặt).
1. Nguyễn Duy Q, sinh năm 1990, tại tỉnh Bình Phước.
Nơi cư trú: Thôn S, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước;
2. Lê Văn M, sinh năm 1990, tại tỉnh Bình Phước.
Nơi cư trú: Thôn S, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước.
3. Lê Quang H, sinh năm 1989, tại tỉnh Bình Phước.
Nơi cư trú: Thôn S, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước;
4. Lê Văn K, sinh năm 1969, tại tỉnh Nghệ An.
Nơi cư trú: Thôn S, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước.
5. Điểu G, sinh năm 1987, tại tỉnh Bình Phước.
Nơi cư trú: Thôn S, xã T, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.
6. Điểu D1, sinh năm 1995, tại tỉnh Bình Phước.
Nơi cư trú: Thôn S, xã T, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.
7. Lê Quang T, sinh năm 1994, tại tỉnh Bình Phước.
Nơi cư trú: Thôn S, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 07/9/2021, Nguyễn Duy Q đến chơi nhà của Nguyễn Văn O tại thôn Sơn Hiệp, xã Thọ Sơn, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước, thì Q và O nảy sinh ý định đánh bạc bằng hình thức đánh bài “xì dách” thắng thua bằng tiền, nên Q gọi điện thoại rủ Lê Quang H và Lê Văn M đến đánh bạc. Trong quá trình đánh bạc, H tiếp tục dùng điện thoại gọi rủ thêm Lê Quang T, Lê Văn K đến đánh bạc cùng. Đến khoảng 15 giờ 45 phút cùng ngày, thì K cùng Điểu D1, Điểu G đến nhà O tham gia đánh bạc. Sòng bạc đánh được một lúc, thì các con bạc cùng nhau ra sân nhà O trải 01 tấm bạt ngồi chơi. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, Lê Quang T đến tham gia cùng. Hình thức đánh bài “xì dách”, như sau: Người chơi sử dụng 01 bộ bài tây (loại 52 lá), mỗi người thay nhau làm “nhà cái” ba ván liên tiếp rồi chuyển cho người kế tiếp. Trước khi chia bài cho “nhà con” sẽ đặt cược số tiền từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng tuỳ theo quy ước với nhà cái. Sau đó, nhà cái sẽ chia bài lần lượt theo chiều kim đồng hồ hoặc ngược chiều kim đồng hồ cho từng người chơi, mỗi người chơi có 02 lá bài, bài dư được để vào giữa.
Người chơi sau khi nhận bài thì tính điểm bằng cách cộng 02 lá bài lại với nhau cao nhất là 21 điểm, thấp nhất để úp bài “dằn” là 16 điểm đối với “nhà con”, 15 điểm đối với “nhà cái” có quyền “dằn” không rút thêm bài dư cách tính như sau: Các lá bài: 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9, 10 thì số điểm tương ứng con số trên lá bài; các là bài: J, Q, K thì mỗi lá được 10 điểm; lá bài A có thể tính là 1, 10 hoặc 11 tùy thuộc vào cách tính của người chơi. Trường hợp đặc biệt người chơi có 02 lá bài A là “xì bàn”, đây là bài lớn nhất; người chơi có 01 lá bài A và 01 lá bài thuộc một trong các lá bài sau 10, J, Q, K là “xì dách”, đây là bài lớn thứ hai chỉ thua “xì bàn”.
Với hai lá bài được chia đầu tiên, nếu người chơi nào có “xì bàn” hoặc “xì dách” thì phải trình diện ngay để thắng tiền cược, nếu nhà cái có “xì bàn” hoặc “xì dách” thì sẽ thắng tất cả nhà con (trừ người chơi có bài bằng hoặc lớn hơn). Nếu “nhà cái” và “nhà con” nào không có “xì bàn” hoặc “xì dách” chưa đủ số điểm “dằn” thì nhà cái và những người chơi còn lại sẽ rút thêm bài dư. Việc rút thêm bài được thực hiện theo vòng tròn, lần lượt người này xong đến người khác tuỳ vào cách chia bài của “nhà cái” và “nhà cái” sẽ rút bài sau cùng. Sau khi tất cả người chơi rút bài xong thì nhà cái sẽ so bài với các nhà con để tính thắng, thua. Cách tính thắng, thua từ lớn đến nhỏ như sau: Lớn nhất là “ngũ linh” tức là người chơi có 05 lá bài nhưng tổng điểm từ 21 điểm trở xuống. Nếu nhà cái và nhà con cùng có “ngũ linh” thì tổng điểm bài ai nhỏ hơn thì người đó thắng hoặc hoà tuỳ theo cách thoả thuận của những người chơi. Trường hợp bài không “ngũ linh” thì tính điểm trong khoảng từ 16 đến 21 điểm, ai lớn điểm hơn thì thắng. Người chơi nào có bài tổng điểm lớn hơn 21 điểm gọi là “quắc” thì thua, nếu nhà cái và nhà con đều quắc thì hòa nhau. Trường hợp “đền bài” nếu người chơi có tổng điểm dưới 15 hoặc từ 28 điểm trở lên thì phải thay nhà cái “thua tiền” đền cược cho tất cả người chơi khác. Trong quá trình chơi, các “nhà con” còn có thể cá cược riêng với nhau tuỳ vào số tiền cược do 02 bên thoải thuận.
Quá trình đánh bạc, Q sử dụng 500.000 đồng, khi bị bắt còn 200.000 đồng; Điểu G mang theo 500.000 đồng, sử dụng 350.000 để đánh bạc, cho Điểu D1 mượn 150.000 đồng, G thua 250.000 đồng, khi bị bắt còn 100.000 đồng; T sử dụng 2.000.000 đồng, thắng 900.000 đồng, khi bị bắt có 2.900.000 đồng; M sử dụng 600.000 đồng, khi bị bắt còn 600.000 đồng; Điểu D1 góp 150.000 đồng chơi chung tụ với Q, thắng 50.000 đồng, khi bị bắt có 200.000 đồng; K sử dụng 200.000 đồng, khi bị bắt còn 200.000 đồng; O sử dụng 1.200.000 đồng, khi bị bắt thua 1.000.000 đồng, còn 200.000 đồng; H sử dụng 1.600.000 đồng, thắng 600.000 đồng, khi bị bắt có 2.200.000 đồng. Tổng số tiền các đối tượng sử dụng vào việc đánh bạc là 6.600.000 đồng.
Sòng bạc chơi đến khoảng 18 giờ cùng ngày thì bị Công an xã Thọ Sơn phát hiện bắt quả tang được Q, Điểu G, Điểu D1, T, O, H. Còn M và K bỏ chạy đến ngày 08/9/2021 tới Công an xã Thọ Sơn đầu thú. Thu giữ tại sòng bạc: Trên chiếu bạc số tiền 6.600.000 đồng; 01 đĩa (dĩa) sứ; 01 tấm bạt; 01 bộ bài tây (loại 52 lá); 05 xe mô tô; 04 điện thoại di động.
- Về vật chứng vụ án: Đã được giải quyết tại Bản án số 36/2022/HSST ngày 23/5/2022.
Tại Cáo trạng số 82/CT –VKS.BĐ ngày 10/10/2022, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo Nguyễn Văn O về Tội đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát khẳng định nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất vụ án, nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh đề nghị tuyên bị cáo Nguyễn Văn O phạm Tội đánh bạc.
Về hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, Điều 51, điểm g, khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn O từ 09 đến 12 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Nguyễn Văn O thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, không có ý kiến tranh luận về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác đối với đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng, Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Bù Đăng, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Ngày 07/9/2021, Nguyễn Duy Q, Lê Văn M, Lê Quang H, Lê Văn K, Điểu G, Điểu D1, Lê Quang T, Nguyễn Văn O đánh bài “xì dách” thắng thua bằng tiền với tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 6.600.000 đồng tại nhà của Nguyễn Văn O thuộc thôn Sơn Hiệp, xã Thọ Sơn, huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước thì bị Công an xã Thọ Sơn phát hiện bắt quả tang người cùng tang vật giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Bù Đăng xác minh, điều tra xử lý theo quy định của pháp luật.
Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở khẳng định hành vi của các bị cáo Nguyễn Văn O đã phạm vào Tội đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Điều 321. Tội đánh bạc
“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.
Như vậy, nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là trái phép nhưng do coi thường pháp luật nên cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến trật tự công cộng và nếp sống văn minh xã hội mà còn làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bản thân bị cáo đã từng có một tiền án về Tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích. Bị cáo không lấy đó làm bài học mà còn tiếp tục phạm tội thể hiện bản tính coi thường pháp luật của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có một tiền án về Tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích. Do đó, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “tái phạm” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn O đã T khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Sau khi cân nhắc mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo và tình tiết giảm nhẹ mà các bị cáo được hưởng, Hội đồng xét xử thấy cần xử các bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội để giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật Hình sự thì Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Do bị cáo không có việc làm ổn định, không có nơi cư trú rõ ràng nên miễn chấp hành hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Đã được giải quyết tại Bản án số 36/2022/HSST ngày 23/5/2022 nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Đối với Nguyễn Duy Q, Lê Văn M, Lê Quang H, Lê Văn K, Điểu G, Điểu D1, Lê Quang T Tòa án nhân dân huyên Bù Đăng đã xét xử tại Bản án số 36/2022/HSST ngày 23/5/2022 nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Quan điểm xử lý vụ án của Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn O phạm Tội đánh bạc
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1, Điều 51, điểm g, khoản 1 Điều 52, Điều 17, Điều 58 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn O 01 năm tù (một năm tù). Thời hạn tù tính từ ngày 01/8/2022.
[3] Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Q hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Phước; - VKSND tỉnh Bình Phước. - Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước; - Công an tỉnh Bình Phước; - VKSND huyện Bù Đăng; - CQ CSĐT Công an h. BĐ; - CCTHADS huyện Bù Đăng; - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Khắc Thanh |