vanban.org

Bản án 89/2022/HSPT — Hình sự

TAND tỉnh Phú Yên Tuyên án 28/11/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 28/11/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Lê K – Giữ nguyên bản án sơ

Tuyên bố: Các bị cáo Hoàng A, Hoàng L, Lê X D phạm tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”. Về Hì nh phạ t : Áp dụng Khoản 1 Điều 157; Điểm b, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo; áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo L, bị cáo A; áp dụng Điểm p, Khoản 1 Điều 51… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng A - phạm tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật (điều 157 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Lê K – Giữ nguyên bản án sơ
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 157 Bộ luật Hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 89/2022/HS-PT
Ngày: 28/11/2022

NHÂN DA

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Nguyên Tùng;

Các Thẩm phán: Ông Nguyễ n Việ t Hù ng và ông Lê Trú c L.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Linh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Huỳ nh Văn Tá m – Kiểm sát viên trung cấp.

Ngày 28 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 73/2022/TLPT-HS ngày 11 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo Hoàng A và đồng phạm, do có kháng cáo của bị hại Lê K đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 20/2022/HS-ST ngày 05/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện TH, tỉnh Phú Yên.

- Các bị cáo bị kháng cáo:

1. Hoàng A, sinh năm 1991; tại huyện K, tỉnh Đ. Nơi cư trú: Thôn L, xã H, huyện TH, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Làm n ông; trình độ văn hóa (học vấ n): 9/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng N, sinh năm 1957 và bà Lê L, sinh năm 1957; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại; có mặt.

2. Hoàng L, sinh năm 1983; tại huyện H, tỉnh T. Nơi cư trú: Thôn L, xã H, huyện TH, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Làm n ông; trình độ văn hóa (học vấ n): 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng N, sinh năm 1957 và bà Lê L, sinh năm 1957; có chồng Lê X D, sinh năm 1977 và 03 con, lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại; có mặt.

3. Lê X D, sinh năm 1977; tại xã H, huyện TH, tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Thôn L, xã H, huyện TH, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ văn hóa (học vấn): 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê C(Chết) và bà Nguyễn M(Chết); có vợ Hoàng L, sinh năm 1983 và 03 con, lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2012; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại; có mặt.

- Người bào chữa của bị cáo Lê X D: Ông Ngô Thiên Phương – Luật sư, do Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Phú Yên cử ; có mặt.

- Bị hại có kháng cáo: Ông Lê K, sinh năm 1957. Nơi cư trú: Thôn L, xã H, huyện TH, tỉnh Phú Yên; có mặt.

- Người làm chứng:

1. Trần T, sinh năm 1986. Nơi cư trú: Thôn M, xã H, huyện TH, tỉnh Phú Yên; có đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Lê Thị QN, sinh năm 2006. Nơi cư trú: Thôn L, xã H, huyện TH, tỉnh Phú Yên; có đơn xin xét xử vắng mặt.

3. Nguyễn VG, sinh năm 1961. Nơi cư trú: Thôn L, xã H, huyện TH, tỉnh Phú Yên; có mặt.

4. Lê VT, sinh năm 1970. Nơi cư trú: Thôn L, xã H, huyện TH, tỉnh Phú Yên; vắ ng mặ t.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê K và vợ chồng Lê X D, Hoàng L thường xảy ra trA chấp đất đai đối với thửa đất tại Thôn L, xã H, huyện TH, tỉnh Phú Yên do Lê VT (A ruột D) đứng tên chủ sử dụng, hiện do vợ chồng D, L quản lý, trông coi.

Chiều ngày 18/12/2021, Hoàng L đến khu vườn nói trên để làm đất trồng rau. Khoảng 15 giờ 50 phút cùng ngày, K đi xe đạp đến, thấy L đang làm đất, K hỏi L vào khu vực đất nhà K làm gì, dẫn đến hai bên cãi nhau. K dùng cây, đất, đá ném về phía L nhưng không trúng. Hoàng A (em ruột của L) đang cho vịt ăn ở gần đó nghe thấy cãi nhau và thấy K cầm một nhánh cây keo tiến về phía L, Hoàng A lấy 01 cây gỗ tròn đường K 8,5cm, dài 2,8m đẩy về phía K. K dùng tay chụp được đoạn cây và té ngã chống tay xuống đất, A thả đoạn cây, chạy đến dùng tay khóa 02 tay K ra sau lưng và đè mặt, người K xuống đất làm làm K bị thương ở mặt. Thấy vậy, L bảo A giữ K lại để L đi báo công an xã H. A bảo L lấy dây trói K trước rồi báo công an sau vì K vùng vẫy không giữ được. L vào nhà lấy 02 đoạn dây nhựa đưa cho A rồi gọi điện thoại đến Công an xã H báo cáo sự việc. A dùng đoạn dây nhựa cột 02 tay K; K vùng vẫy, dùng tay bóp vào bộ phận sinh dục của A, A la lên, D đứng gần đó chạy đến gỡ tay K ra, đồng thời giữ tay K để cho A dùng đoạn dây còn lại tiếp tục trói 02 chân K. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, Công an xã H đến hiện trường, lập biên bản cởi trói cho K.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 75/TgT ngày 07/4/2022 của Trung tâm Pháp y tỉnh Phú Yên kết luận: Tỷ lệ thương tích của Lê Klà 09% do vật tày gây nên.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 20/2022/HS-ST ngày 05/8/2022 của Tòa án nhân dân huyện TH, tỉnh Phú Yên đã tuyên các bị cáo Hoàng A, Hoàng L, Lê X D phạm tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”. Áp dụng Khoản 1 Điều 157; Điểm b, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo; áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo L, bị cáo A; áp dụng Điểm p, Khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo D; phạt:

Bị cáo Hoàng A 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai ) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Bị cáo Hoàng L 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Hoàng A, Hoàng L cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện TH, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo Hoàng A, Hoàng L có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo. Khi bị cáo A, L thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo A, L cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo A, L phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Bị cáo Lê X D 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo tính từ ngày Uỷ ban nhân dân xã H, huyện TH, tỉnh Phú Yên nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Lê X D cho Uỷ ban nhân dân xã H, huyện TH, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Gia đình bị cáo D có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự.

Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Buộ c các bị cáo Hoàng A, Hoàng L, Lê X D phải liên đới bồi thường cho bị hại Lê K số tiề n 21.360.000 đồ ng, mỗ i bị cá o phả i bồ i thườ ng 7.120.000 đồ ng. Bị cáo A, bị cáo D mỗ i bị cá o đã bồ i thườ ng 500.000 đồ ng, bị cáo L đã bồ i thườ ng 2.500.000 đồ ng, nên bị cá o A, bị cáo D mỗ i bị cá o còn phải bồi thường 6.620.000 đồ ng, bị cáo L còn phải bồi thườ ng 4.620.000 đồ ng.

Ngoài ra , Bản án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng , án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 29/8/2022, bị hại Lê K kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên toà, các bị cáo Hoàng A, Hoàng L, Lê X D vẫ n khai nhậ n tộ i như đã kha i tạ i Cơ quan điề u tra , thừ a nhậ n toà n bộ hà nh vi phạ m tộ i như nộ i dung bả n á n sơ thẩ m đã tuyên là đú ng.

- Người bào chữa cho bị cáo Lê Xuân D đề nghị Hội đồng xét xử, không chấ p nhậ n khá ng cá o củ a bị hạ i giữ nguyên bả n á n sơ thẩ m.

- Người bị hại giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và đề nghị xét xử nghiêm.

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử, căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị hại – Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Quá trình tranh luận không phá t sinh vấ n đề đố i đá p . Nói lời sau cùng , các bị cáo đều xin pháp luật khoan hồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được trA tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về tộ i danh: Khoảng 15 giờ 50 phút ngày 18/12/2021, tại Thôn L, xã H, huyện TH, tỉnh Phú Yên. Thấ y Lê Trọ ng K dùng cây, đất, đá ném Hoàng Thị L, cầm nhánh cây keo tiến về phía L; sợ K đá nh L, Hoàng A (Em trai L) dùng cây gỗ tròn đẩy về phí a Lê K, K chụp một đầu cây và ngã xuống đất; Hoàng Tuấ n A thả cây và ôm K lại, nhưng bị K bóp vào bộ phận sinh dục gây đau đớn; nên đã cùng Hoàng L, Lê X D dùng dây trói, bắ t giữ Lê Ktrái pháp luật, làm K bị thương tích 09 %. Do đó , cấp sơ thẩm đã truy tố, xét xử các bị cáo Hoàng A, Hoàng L, Lê X D về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật” theo Khoả n 1 Điề u 157 Bộ luậ t Hì nh sự là có căn c ứ, đú ng ngườ i, đúng tội. Quá trình bắt, giữ Lê K vớ i mục đích để đi báo c áo chính quyền địa phương , do K giãy dụa nên bị thương tích ở vùng mặt ; ngoài Hoàng A, Hoàng L, Lê X D không cò n ai khá c cù ng tham gia vớ i cá c bị cá o ; nên không có căn cứ cho rằ ng, cấ p sơ thẩ m cò n bỏ lọ t tội phạ m và ngườ i phạ m tộ i.

Về hình phạt: Hành vi của cá c b ị cáo không chỉ xâm phạm đến sức khỏe, quyề n tự do về thân thể của bị hại đượ c pháp luật bảo vệ, mà còn gây mất trật tự trị an – an toàn xã hội ở địa phương, nên cần xử phạt nghiêm. Khi lượng hình, án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất của vụ án, xem xé t như nguyên nhân, điề u kiệ n phạ m tộ i, lỗ i củ a bị hạ i và áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà từ ng b ị cáo được hưởng, để phạt bị cáo Hoàng A 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù cho hưởng án treo, bị cáo Hoàng L 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo, bị cáo Lê X D 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ là phù hợp; đả m bả o răn đe, giáo dục và ngăn ngừa tội phạm.

Về trá ch nhiệ m bồ i thườ ng dân sự :

Đối với khoản tiền mấ t thu nhậ p trong thờ i gian nằ m việ n của bị hại không đượ c cấ p sơ thẩ m xem xét, tuy nhiên tạ i phiên tò a phú c thẩ m mặ c dù đã đượ c giả i thí ch nhưng bị hạ i không yêu cầ u, nên không có căn cứ xem xé t.

Đối với khoản tiền thiệt hại về sức khỏe của bị hại mà án sơ thẩm tính, gồm: Tiền điều trị tại Bệnh viện có đầy đủ hóa đơn, chứng từ: 6.420.437 đồng; Tiền bồi dưỡng sức khỏe trong những ngày nằm viện: 28 ngày x 200.000đ/ngày = 5.600.000 đồng; Tiền công người nuôi bệnh trong những ngày nằm viện: 250.000đ/ngày x 28 ngày = 7.000.000 đồng; Tiền xe nhập viện, xuất viện: 400.000 đồng; Tiền tổn thất tinh thần 06 tháng lương x 1.490.000đ = 8.940.000 đồng. Tổng cộng: 28.360.437 đồng. Trên cơ sở mứ c độ lỗ i củ a bị hạ i , án sơ thẩ m b uộ c các bị cáo phải liên đới bồi thường cho bị hại số tiền 21.360.000 đồ ng, phầ n mỗ i bị cá o phả i bồ i thườ ng theo phầ n ngang nhau 7.120.000 đồ ng; là đã tính đúng , tính đủ, phù hợp với Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 585; 590 Bộ luật Dân sự.

Do đó , Kiể m sá t viên đề nghị Hộ i đồ ng xé t xử không chấ p nhậ n khá ng

cáo của bị hại, giữ nguyên bả n á n sơ thẩ m là có cơ sở chấ p nhậ n.

Các bị cáo Hoàng A, Hoàng L, Lê X D không phả i chị u á n phí hì nh sự phúc thẩm theo Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo hoặc kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Lê K – Giữ nguyên bản án sơ

thẩm

Tuyên bố: Các bị cáo Hoàng A, Hoàng L, Lê X D phạm tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”.

1. Về Hì nh phạ t : Áp dụng Khoản 1 Điều 157; Điểm b, i, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo; áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo L, bị cáo A; áp dụng Điểm p, Khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo D; phạt:

1.1. Bị cáo Hoàng A – 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

1.2. Bị cáo Hoàng L – 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Hoàng A, Hoàng L cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện TH, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo Hoàng A, Hoàng L có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo. Khi bị cáo Hoàng A, Hoàng L thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Hoàng A, Hoàng L cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Hoàng A, Hoàng L phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

1.3. Bị cáo Lê X D – 06 (sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo tính từ ngày Uỷ ban nhân dân xã H, huyện TH, tỉnh Phú Yên nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Lê X D cho Uỷ ban nhân dân xã H, huyện TH, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ.

Gia đình bị cáo D có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo Lê X D. Người bị kết án cải tạo không giam giữ phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự.

2. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 585; 590 Bộ luật Dân sự;

Buộ c các bị cáo Hoàng A, Hoàng L, Lê X D phải liên đới bồi thường cho bị hại Lê Ksố tiề n 21.360.000đ (Hai mươi mố t triệ u ba trăm sá u mươi nghì n đồ ng); phầ n mỗ i bị cáo phả i bồ i thườ ng theo phầ n ngang nhau cho bị hạ i là : 7.120.000 đồ ng, cụ thể bị cáo Hoàng A, bị cáo Lê X D mỗ i bị cá o đã bồ i thườ ng 500.000đ (Năm trăm nghì n đồ ng), bị cáo Hoàng L đã bồ i thườ ng 2.500.000đ (Hai triệ u năm trăm nghì n đồ ng). Nên bị cá o Hoàng A, bị cáo Lê X D mỗ i bị cáo phải tiế p tụ c bồ i thườ ng cho bị hạ i Lê K6.620.000đ (Sáu triệu sáu trăm hai mươi nghì n đồ ng), bị cáo Hoàng L còn phải tiế p tụ c bồ i thườ ng cho bị hạ i Lê K4.620.000đ (Bố n triệ u sá u trăm hai mươi nghì n đồ ng).

Tuyên trả cho bị hạ i Lê Ksố tiề n 3.500.000đ (Ba triệ u năm trăm nghì n đồ ng) mà các bị cáo đã nộp bồi thường cho bị hại tại c

ác Biên lai : 0001062 ngày 17/5/2022, 0001066 ngày 06/6/2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Hoà, tỉnh Phú Yên (Bút lục 416, 434).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (Đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyên thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về án phí:

Các bị cáo Hoàng A, Hoàng L, Lê X D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ