- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vu Van H - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Án số: 89/2022/HS-ST Ngày 10 - 8 - 2022. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Tiến Thịnh và ông Nguyễn Xuân Anh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Quỳnh Anh - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Trần Đức Hiển - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình. Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình mở phiên tòa xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 78/2022/TLST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2022/QĐXX-HS ngày 29 tháng 7 năm 2022, đối với bị cáo:
Họ và tên: Vũ Văn H, sinh ngày 02/8/1997; nơi sinh tại Thái Bình; hộ khẩu thường trú và cư trú: Tổ C, phường HD, thành phố TB, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn V và bà Vũ Thị Ng; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Từ tháng 9/2015 đến tháng 7/2017 tham gia nghĩa vụ quân sự đóng quân tại Tiểu đoàn 2, Lữ đoàn 139, Binh chủng thông tin; bị tạm giữ từ ngày 11/4/2022, tạm giam từ ngày 15/4/2022 đến nay, trích xuất, có mặt.
* Người chứng kiến:
- Ông Hoàng Q, sinh năm 1969; nơi cư trú: Khu NS, thị trấn TH, huyện TH, tỉnh Thái Bình, (vắng mặt).
- Chị Vũ Thị Kim D, sinh năm 1992; nơi cư trú: Xóm A, xã HP, huyện HH, tỉnh Nam Định, (vắng mặt).
- Chị Trịnh Kim O, sinh năm 2001; nơi cư trú: Thôn VL, xã PL, huyện SS, thành phố Hà Nội, (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 00 giờ ngày 11/4/2022, tại quán ăn đêm trên đường Minh Khai, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, bị cáo Vũ Văn H nói với chị Vũ Thị Kim D, chị Trịnh Kim O là ngồi đợi bị cáo đi có tí việc sau đó bị cáo thuê xe Taxi chở đến khu vực cầu Cống Trắng, phường Quang Trung, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình để bị cáo mua ma tuý sử dụng cho bản thân. Đến nơi bị cáo mua của một người phụ nữ khoảng 30 tuổi, không quen biết số tiền 2.500.000 đồng được 01 túi nilon trong suốt bên trong có 02 viên nén màu xanh và 01 túi nilon trong suốt bên trong chứa chất dạng tinh thể màu trắng rồi cất giấu vào túi quần bên phải phía trước và quay lại quán ăn đêm. Khoảng 02 giờ cùng ngày bị cáo dẫn chị D, chị O đến khách sạn Dream thuộc tổ 11, phường Đề Thám, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình thuê phòng số 415 để 2 chị nghỉ lại. Tại phòng số 415 bị cáo cùng chị D, chị O nói chuyện đến khoảng 03 giờ cùng ngày thì bị tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý, Công an tỉnh Thái Bình đến kiểm tra hành chính, khi kiểm tra bị cáo Huy tự giác lấy từ túi quần bên phải phía trước của bị cáo ra giao nộp cho tổ công tác 01 túi nilon trong suốt bên trong có 02 viên nén màu xanh, bị cáo khai nhận là kẹo ma tuý (tổ công tác niêm phong ký hiệu M1) và 01 túi nilon trong suốt bên trong chứa chất dạng tinh thể màu trắng, bị cáo khai nhận là Ketamine (tổ công tác niêm phong ký hiệu M2), bị cáo khai nhận hai túi ma tuý bị cáo cất giấu trong túi quần là để bản thân sử dụng. Khi bị cáo mua ma tuý và tàng trữ ma tuý bị cáo không nói cho chị D và chị O biết. Tổ công tác còn thu tại túi quần bên trái phía trước của bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Iphone, màu hồng. Kiểm tra người chị D và chị O nhưng không phát hiện thu giữ gì. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và biên bản niêm phong vật chứng để xử lý theo quy định của pháp luật.
Bản kết luận giám định số 114/KL-KTHS(MT) ngày 13/4/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: “Mẫu vật M1 gửi giám định là ma túy, loại MDMA, có khối lượng 0,9106 gam (không phẩy chín nghìn một trăm linh sáu gam)“; “Mẫu vật M2 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, có khối lượng 0,8379 gam (không phẩy tám nghìn ba trăm bẩy mươi chín gam)“.
Bản kết luận giám định số 116/KL- KTHS(MT) ngày 14/4/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình kết luận: Mẫu nước tiểu M1 thu của Vũ Văn H có sản phẩm chuyển hoá của ma tuý, loại MDMA; mẫu nước tiểu M2, M3 thu của Trịnh Kim O và Vũ Thị Kim D đều không tìm thấy sản phẩm chuyển hoá của ma tuý.
Tại cơ quan điều tra những người chứng kiến: Ông Hoàng Q, chị Trịnh Kim O, chị Vũ Thị Kim D đều khai phù hợp với lời khai của bị cáo Vũ Văn H về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của bị cáo ngày 11/4/2022.
Tại cơ quan điều tra bị cáo Vũ Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Bản cáo trạng số: 94/CT - VKSTPTB ngày 01/7/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo Vũ Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Kiểm sát viên luận tội: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Tại phiên toà không phát sinh tình tiết mới làm thay đổi nội dung vụ án nên khẳng định cáo trạng truy tố bị cáo là đúng pháp luật. Kiểm sát viên phân tích nguyên nhân, điều kiện phạm tội, đánh giá chứng cứ xác định có tội, xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, hậu quả, nhân thân của bị cáo, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên giữ nguyên quan điểm truy tố theo cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
- Về hình phạt: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Vũ Văn H từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 11/4/2022. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị xử lý vật chứng bằng hình thức: Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo hoàn lại sau giám định; trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu hồng, đã cũ.
Bị cáo Vũ Văn H xác định cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật vì vậy bị cáo không trình bày lời bào chữa, không trình bày ý kiến tranh luận về tội danh và mức hình phạt do Kiểm sát viên đề nghị tại phiên tòa. Kết thúc phần tranh luận bị cáo nói lời sau cùng là đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố: Các tài liệu, chứng cứ do Điều tra viên và Kiểm sát viên thu thập trong quá trình điều tra vụ án đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật và đó là các tài liệu, chứng cứ hợp pháp chứng minh cho hành vi phạm tội của bị cáo. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên và cơ quan điều tra, Viện kiểm sát trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự nên bị cáo không khiếu nại về các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng.
[2] Căn cứ kết tội đối với bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa đúng như lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và hoàn toàn phù hợp với Cáo trạng đã truy tố, đồng thời còn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ như: Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; các Bản Kết luận giám định; Lời khai của người chứng kiến; cùng các tài liệu, chứng cứ khác chứng minh về hành vi phạm tội của bị cáo thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 03 giờ ngày 11/4/2022, tại phòng số 415 khách sạn Dream thuộc tổ 11, phường Đề Thám, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, bị cáo Vũ Văn H có hành vi tàng trữ trái phép tại túi quần bên phải phía trước đang mặc của bị cáo 01 túi ma tuý loại MDMA, có khối lượng 0,9106 gam và 01 túi ma tuý loại KETAMINE, có khối lượng 0,8379 gam mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh Thái Bình bắt quả tang. Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ, lẽ ra bị cáo phải nhận thức rõ các tác hại do ma túy gây ra cũng như phải hiểu được quy định của pháp luật về việc nghiêm cấm đối với mọi hành vi liên quan đến ma túy, song để đạt được nhu cầu sử dụng ma tuý của bản thân nên bị cáo đã cố ý tàng trữ trái phép chất ma túy. Do bị cáo tàng trữ 02 chất ma tuý là loại MDMA và loại KETAMINE nên áp dụng khoản 2 Điều 5 Nghị định số 19/2018/NĐ - CP ngày 02/02/2018 của Chính Phủ để tính tổng khối lượng của 02 chất ma tuý do bị cáo tàng trữ. Xét hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của bị cáo phù hợp với dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội phạm quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Điều 249 - Tội tàng trữ trái phép chất ma túy: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm: a) ...;b) ...; c) ...; d) ...; đ) ...; e) ...; g) ...; h) ...; i) Có 02 chất ma tuý trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma tuý quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này.”. Như vậy, hành vi của bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh và Điều luật là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Tại phiên toà bị cáo Huy khai trước ngày 11/4/2022, bị cáo có sử dụng trái phép chất ma tuý một mình tại tỉnh Nam Định nhưng không nhớ địa chỉ cụ thể. Xét lời khai của bị cáo phù hợp với Kết luận giám định số 116/KL-KTHS(MT) ngày 14/4/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thái Bình, nên Cơ quan Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, đã quyết định xử phạt hành chính đối với bị cáo Huy về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý là phù hợp.
[4] Xét, chị Vũ Thị Kim D và chị Trịnh Kim O không biết bị cáo Huy mua ma tuý và tàng trữ trái phép chất ma tuý ngày 11/4/2022, hai chị không góp tiền để bị cáo Huy mua chung ma tuý và không sử dụng chung ma tuý với bị cáo Huy nên cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý chị D, chị O là phù hợp.
[5] Xét tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy là nguy hiểm cho xã hội, vì hành vi đó đã cố ý xâm phạm đến các quy định của nhà nước về quản lý các chất ma túy, đe dọa nghiêm trọng đến an toàn, trật tự công cộng, sức khỏe của con người cũng như ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội. Xét nguyên nhân và điều kiện thực hiện hành vi phạm tội là để đạt được nhu cầu sử dụng ma tuý của bản thân nên bị cáo không tuân thủ pháp luật, vì vậy cần xét xử bị cáo nghiêm minh.
[6] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo thì thấy bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình, bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự cho nên khi lượng hình bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[7] Về mức hình phạt và biện pháp chấp hành hình phạt: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử sẽ quyết định mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra là phạt tù có thời hạn - buộc bị cáo cách ly ra ngoài xã hội một thời gian nhất định để đảm bảo hiệu quả của việc cải tạo, giáo dục cũng như phòng ngừa tội phạm chung. Bị cáo là người nghiện ma túy, lao động tự do, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo khai mua của 01 người nữ giới không biết tên, tuổi, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra, xử lý người bán ma tuý cho bị cáo là phù hợp.
[9] Về xử lý vật chứng: Số ma túy loại MDMA và loại KETAMINE thu giữ của bị cáo được hoàn lại sau giám định, là vật thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
[10] Về tài sản khác: Đối với 01 điện thoại hiệu Iphone, màu hồng thu giữ của bị cáo, xét không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tuyên trả lại điện thoại cho bị cáo.
[11] Về án phí: Bị cáo Vũ Văn H phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[12] Bị cáo Vũ Văn H có quyền kháng cáo trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38; khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.
1. Tuyên bố: Bị cáo Vũ Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vũ Văn H 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ 11/4/2022.
3. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ số ma túy loại MDMA và loại KETAMINE thu của bị cáo Vũ Văn H hoàn lại sau giám định và bao gói.
4. Tài sản khác: Trả lại cho bị cáo Vũ Văn H 01 điện thoại hiệu Iphone, màu hồng.
5. Vật chứng và tài sản khác có đặc điểm như ghi tại: Biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 11/4/2022, Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 01/7/2022 giữa Công an thành phố Thái Bình và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình.
6. Án phí: Buộc bị cáo Vũ Văn H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
7. Quyền kháng cáo: Án tuyên công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 10/8/2022.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Bị cáo;
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà
- VKSND TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
- Chi cục THADS TP.Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
- Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
- Cơ quan Thi hành án hình sự Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình;
- VKS tỉnh Thái Bình;
Nguyễn Thị Hân
- Lưu hồ sơ vụ án. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND TP. Thái Bình, tỉnh Thái Bình; - Chi cục THADS TP.Thái Bình, tỉnh Thái Bình; - Cơ quan điều tra Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; - VKS tỉnh Thái Bình; - Lưu hồ sơ vụ án. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hân T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Hân |