- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đức H - tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SL TỈNH SL | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 89/2022/HS-ST Ngày: 26 – 5 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SL - TỈNH SL
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Quỳnh Trang
Các hội thẩm nhân dân:
Bà Lò Thị Quỳnh
Bà Hà Thị Thanh Liêm
- Thư ký phiên toà: Ông Cầm Việt Hùng, Thư ký Toà án nhân dân thành phố SL, tỉnh SL.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố SL tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Lan, Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố SL, tỉnh SL xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 81/2022/TLST-HS ngày 25/3/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/HSST-QĐ ngày 13/5/2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Đức H (tên gọi khác: không), sinh ngày 25 tháng 5 năm 1988 tại thành phố SL, tỉnh SL; Nơi ĐKNKTT: Tổ 13, phường QT, thành phố SL, tỉnh SL. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1958 và bà Lê Thị L, sinh năm 1964; bị cáo chưa có vợ, con; Tiền án: Bị cáo có 02 tiền án: tại bản án số 11/2015/HSPT ngày 25/11/2015 của Tòa án nhân dân huyện MS, tỉnh SL xử phạt bị cáo 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 tháng về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (chưa được xóa án tích); Tại bản án số 09/2016/HSST ngày 22/11/2016 của Tòa án nhân dân thành phố SL xử phạt bị cáo 30 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt chung của cả hai bản án là 48 tháng tù (chưa được xóa án tích). Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/12/2021 cho đến nay, có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 18 giờ 50 phút ngày 16/12/2021, tổ công tác Công an phường C phối hợp với Công an phường QT – Công an Thành phố SL làm nhiệm vụ tại khu vực tổ 10, phường QT, thành phố SL, tỉnh SL đã phát hiện, bắt quả tang Nguyễn Đức H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Nguyễn Đức H khai nhận:
Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 16/12/2021, Nguyễn Đức H đón xe ôm từ nhà ở tổ 13, phường QT, thành phố SL đến khu vực Nhà văn hóa bản Lầu, phường CL tìm mua ma túy. Khi đến nơi, H xuống xe đi bộ đến đường kè suối thì gặp một người đàn ông không quen biết và hỏi mua được 02 viên hồng phiến với giá tiền 200.000 đồng. Sau đó, H cất giấu ma túy vào túi quần đang mặc phía trước bên pH rồi đi xe ôm đến ngã ba Điện Lực thuộc tổ 10, phường QT xuống xe đi bộ tìm nơi để sử dụng thì bị tổ công tác phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng.
Cơ quan Công an thành phố SL thu giữ được vật chứng gồm: 01 gói giấy bạc bên trong có 02 viên nén đồng dạng màu hồng (theo lời khai của H là hồng phiến).
Ngày 17/12/2021, Công an thành phố SL tiến hành cân tịnh vật chứng, kết quả 02 viên nén đồng dạng màu hồng có tổng trọng lượng 0,16 gam, lấy hết làm mẫu trưng cầu giám định, ký hiệu H1.
Tại Kết luận giám định số 32 ngày 20/12/2021 của phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh SL kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu H1 là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,16 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,16 gam, loại Methamphetamine. Mẫu giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định”.
Tại bản Cáo trạng số: 82/CT-VKSTP ngày 25 tháng 3 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố SL, tỉnh SL đã truy tố bị cáo Nguyễn Đức H về tội:“Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đức H khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố SL đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đề nghị áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị Nguyễn Đức H từ 5 năm đến 6 năm tù. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc phong bì công văn Công an thành phố SL còn nguyên niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng lưu kho vụ Nguyễn Đức H, sinh năm 1988 - Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bắt ngày 16/12/2021” gồm 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở, 01 mảnh giấy bạc”, mặt sau phong bì trên giấy dán niêm phong số 042364.
Về án phí: Bị cáo H chịu án phí hình sự theo quy định.
Ý kiến của bị cáo nhất trí như Quyết định truy tố và quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát đối với bị cáo tại phiên toà. Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố SL, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố SL, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo:
Vào ngày 16/12/2021, Nguyễn Đức H đã có hành vi Tàng trữ trái phép 0,16 gam Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng. Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau:
- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 19 giờ 00 phút ngày 16/12/2021 tại tổ 10, phường QT, thành phố SL, tỉnh SL đối với Nguyễn Đức H.
- Kết luận giám định số 32 ngày 20/12/2021 của phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh SL kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu H1 là ma túy, loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,16 gam”.
- Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với kết quả điều tra và kết quả tranh tụng tại phiên tòa.
Với các căn cứ chứng minh trên có đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Đức H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:
- Xét hành vi, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo Nguyễn Đức H với số lượng tàng trữ ma túy 0,16 gam Methamphetamine, bị cáo có 02 tiền án về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản năm 2015 và Mua bán trái phép chất ma túy năm 2016 (chưa được xóa án tích) nên bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm b khoản 2 điều 53 Bộ luật hình sự, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm o khoản 2 điều 249 Bộ luật hình sự thuộc trường hợp rất nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, gây mất trật tự an ninh và an toàn xã hội tại địa phương.
- Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ hình phạt theo quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định, là người nghiện ma tuý, không có điều kiện thi hành hình phạt bổ sung nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với nguồn gốc 0,16 gam Methamphetamine, bị cáo khai nhận do bị cáo mua của người không biết tên, tuổi, địa chỉ nên không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án.
Về vật chứng vụ án: Đối với 01 vỏ niêm phong ban đầu đã bóc mở, 01 mảnh giấy bạc, xét thấy không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu, tiêu hủy theo Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đức H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức H 05 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt phạm tội quả tang (ngày 16/12/2021).
- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở, 01 mảnh giấy bạc, mặt sau phong bì trên giấy dán niêm phong số 042364.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 29/3/2022 giữa Công an thành phố SL và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố SL, tỉnh SL).
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14: Buộc bị cáo Nguyễn Đức H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (hai trăm ngàn đồng).
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Đức H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 26/5/2022)./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh SL; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh SL; - Viện kiểm sát nhân dân TP SL; - Công an thành phố SL; - Trại giam Công an tỉnh SL; - Chi cục THADS thành phố SL; - THA hình sự; - Sở Tư pháp tỉnh SL; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ; án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đào Thị Quỳnh Trang |