vanban.org

Bản án 89/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Châu Đốc, tỉnh An Giang Tuyên án 09/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Trần Thị Thu M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma

Xử phạt: Trần Thị Thu M 02 (hai) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bắt tạm Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thị Thu M - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Thị Thu M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 89/2022/HS-ST
Ngày: 09 - 12 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Ngọc.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Bằng;

2. Bà Trần Thị Ánh Hằng.

.

Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân thành

phố K, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố K, tỉnh An Giang tham gia

phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Hải, Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố

K

xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 69/2022/HSST ngày 21 tháng 10

năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2022/QĐXXST-HS ngày 04

tháng 11 năm 2022 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 05/TB-TA ngày

10-11-2022 đối với bị cáo:

Trần Thị Thu M, sinh năm 1984; nơi sinh: thành phố K, tỉnh An Giang; nơi

thường trú: tổ 21, khóm V1, phường K, thành phố K, tỉnh An Giang; chỗ ở hiện

nay: tổ 10, khóm V1, phườ ng K, thành phố K, tỉnh An Giang; trinh đô ̣ ho ̣c vấn:

̀

8/12; dân tô ̣c: Kinh; giớ i tinh: nữ; tôn giáo: Đa ̣o Phâ ̣t; quốc ti ̣ch: Viê ̣t Nam; con

́

ông Trần Thanh Liêm, sinh năm 1950 và bà Huỳnh Thị Hết (đã chết); chồng

Nguyễn Song T, sinh năm 1982 (đa ly hôn); con cõ

́ 01 ngườ i, sinh năm 2005 (con

chung với Toàn); chồng hiện tại là Trần Văn Chiến; anh chi ̣ em ruô ̣t có 04 ngườ i,

bi ̣ cáo là ngườ i thứ tư.

Tiền sự: Ngày 18-02-2020 Toà án nhân dân thành phố K quyết định áp

dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18

tháng. Chấp hành xong ngày 11-4-2021, chưa được xóa tiền sự.

Tiền án: Ngày 27-4-2022, Toà án nhân đân thành phố K kết án 06 tháng tù

về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong ngày 06/12/2022, chưa xóa án tích.

Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 06-12-2022 cho đến nay và có mặt tại

phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Nguyễn Vũ Hải, sinh

năm 1995; nơi cư trú: tổ 01, khóm V, phường K, thành phố K, tỉnh An Giang (vắng mặt).

Người làm chứng: Lê Thành Bảo, sinh năm 1996 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 06-6-2022, Cơ quan thi hành án hình sự - Công an

thành phố K phối hợp với Công an phường K, thành phố K tổ chức thi hành Quyết định thi hành án phạt tù đối với Trần Thị Thu M, sinh năm 1984, nơi ở hiện tại: tổ 10, khóm Vĩnh Phước, phường K, thành phố K do không tự nguyện chấp hành án phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” khi hết thời gian tự nguyện theo luật định; phát hiện, bắt quả tang M có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý; thu giữ 05 đoạn ống hút nhựa, hàn kín, chứa tinh thể trắng; 03 đoạn ống hút nhựa, hàn kín, chứa chất bột trắng; 01 túi nhựa trong suốt, hàn kín, chứa chất bột trắng; 01 túi nhựa trong suốt, hàn kín, chứa tinh thể trắng (đã giám định chất ma tuý Heroine và Methamphetamie). M khai ma tuý đá và Heroine, mua của Nguyễn Vũ Hải (tổ 9, khóm Vĩnh Đông, phường K, thành phố K) giá 2.100.000 đồng, cất giấu, để sử dụng.

Vật chứng thu giữ: 05 đoạn ống hút nhựa, hàn kín, chứa tinh thể trắng; 03

đoạn ống hút nhựa, hàn kín, chứa chất bột màu trắng; 01 túi nhựa trong suốt, hàn kín, chứa chất bột màu trắng; 01 túi nhựa trong suốt, hàn kín, chứa tinh thể trắng (giám định ma tuý loại Heroine và Methamphetamine, đã bàn giao Cơ quan Thi hành án dân sự).

Căn cứ Kết luận giám định số 89/KL-KTHS (MT-GT) ngày 16-6-2022 của

Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh An Giang xác định: Mẫu M2, M3, M4 gửi đến giám định là ma túy, loại Heroine, có tổng khối lượng: 0,6548g (không phẩy sáu năm bốn tám gam). Mẫu M1, M5 gửi đến giám định là ma túy, loại: Methamphetamine, có khối lượng 0,5510 gam (không phẩy năm năm một không gam).

Ngày 30-6-2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố K khởi tố

vụ án, khởi tố bị can đối với Trần Thị Thu M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Tại Cáo trạng số 78/CT-VKSCĐ ngày 21-10-2022 của Viện kiểm sát nhân

dân thành phố K đã truy tố bị cáo Trần Thị Thu M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa,

- Bị cáo Trần Thị Thu M khai nhận do bản thân nghiện ma túy, để thỏa

mãn cơn nghiện, M đã mua ma túy 04 lần của Nguyễn Vũ Hải cất giấu để sử dụng, bị bắt quả tang như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Không có ý kiến tranh luận và trong lời nói sau cùng bị cáo cũng không có ý kiến.

- Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan

điểm truy tố bi ̣ cáo Trần Thị Thu M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo

điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự theo nội dung cáo trạng.

Tình tiết tăng nặng: Ngày 27-4-2022, bị cáo bị Toà án nhân đân thành phố

K kết án 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, trong thời gian bị cáo chờ chấp

hành án trong vụ án “trộm cắp tài sản” bị cáo lại tiếp tục tàng trữ trái phép chất

ma túy, thuộc trường hợp tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 và

Điều 53 Bộ luật Hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Thu M thuộc thành phần nhân dân lao động;

hiểu biết pháp luật có phần hạn chế; thành khẩn khai báo được quy định tại điểm

s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đề nghị áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều

51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 53 và Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo

Trần Thị Thu M từ 01 năm 09 tháng đến 02 năm tù. Thời hạn chấp hành hình

phạt tính từ ngày bị bắt tạm giam 06/12/2022.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự

năm 2015, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu, tiêu hủy lượng

ma túy còn lại sau giám định..

Đối với trường hợp Trần Thị Thu M khai mua ma túy của Nguyễn Vũ Hải,

Hải không thừa nhận, Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ, xác minh theo luật định.

Đề nghị HĐXX quyết định về án phí hình sự sơ thẩm; quyền kháng cáo

của bị cáo, đương sự trong vụ án theo luật định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

* Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành

tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các quyết định, hành vi tố tụng

của Cơ quan điều tra Công an thành phố K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân

thành phố K, Kiểm sát viên được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục

được pháp luật tố tụng hình sự quy định. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa,

bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về

hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố

tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng do Cơ quan điều tra, Điều tra viên,

Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng tại

phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng vắng mặt và

bị cáo không có ý kiến về việc vắng mặt. Xét, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên

quan và người làm chứng đã có lời khai trong quá trình điều tra nên việc vắng

mặt tại phiên tòa, không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292 và Điều 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.

* Về nội dung,

Hành vi phạm tội:

Bị cáo Trần Thị Thu M khai nhận: Bản thân nghiện ma túy nên vào các

ngày 01-6-2022; 04-6-2022 bị cáo gọi điện cho Nguyễn Vũ Hải (ngụ tổ 9, khóm Vĩnh Đông, phường K, thành phố K) hỏi mua ma túy đá và Heroin tổng cộng 04 lần với giá 2.100.000 đồng. Nhận ma túy xong bị cáo đem về nhà phân lẻ bọc Heroin được 07 tép để trong các đoạn ống nhựa màu vàng, màu cam, hàn kín và phân lẻ bọc ma túy đá được 06 tép để trong các đoạn ống hút nhựa màu trắng, hàn kín. Sau đó cất giấu tất cả ma túy vào trong túi xách bằng vải, màu xanh có dây kéo bên ngoài ghi chữ New V.rohto để trong sọt nhựa màu đỏ đựng quần áo sử dụng dần.

Đến ngày 06-6-2022 khi lực lượng Công an đến nhà thi hành Quyết định

hình phạt tù đối với bị cáo trong vụ án “trộm cắp tài sản” thì kiểm tra, phát hiện bắt quả tang bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép chấp ma túy. Ngoài ra, bị cáo khai nhận trước đó vào khoảng giữa tháng 05-2022 đến cuối tháng 05-2022 đã mua ma túy của Hải 02 lần (lần 01 mua 350.000 đồng Heroine, lần 02 mua 350.000 đồng Heroine và 150.000 đồng ma túy đá) cất giấu để sử dụng.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo ở

giai đoạn điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang ngày 06-6-2022 và lời khai của người làm chứng.

Theo Kết luận giám định số 89/KL-KTHS (MT-GT) ngày 16-6-2022 của

Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh An Giang xác định: Mẫu M2, M3, M4 gửi đến giám định là ma túy, loại Heroine, có tồng khối lượng: 0,6548g (không phẩy sáu năm bốn tám gam). Mẫu M1, M5 gửi đến giám định là ma túy, loại: Methamphetamine, có khối lượng 0,5510 gam (không phẩy năm năm một không gam).

Từ đó có căn cứ xác định, bị cáo M đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép

chất ma túy loại Heroine và Methamphetamine. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng lớn đến công tác đấu tranh phòng, chống tệ nạn ma túy mà Nhà nước, xã hội đang ra sức thực hiện. Do đó, cần có hình phạt tương xứng với hành vi phạt tội của bị cáo để đảm bảo mục đích răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố K truy tố và lời buộc tội

của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố K đối với bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng: Ngày 27-4-2022, bị cáo bị Toà án nhân đân thành

phố K kết án 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, trong thời gian bị cáo chờ chấp hành án trong vụ án “trộm cắp tài sản” bị cáo lại tiếp tục tàng trữ trái phép

chất ma túy, thuộc trường hợp tái phạm được quy định tại điểm h khoản 1 Điều

52 và Điều 53 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị

cáo thành khẩn khai báo; bị cáo thuộc thành phần nhân dân lao động được áp

dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1,

khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, cần xem xét cho bị cáo khi lượng hình.

Về hình phạt bổ sung: Xét, bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn,

không nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

Lượng ma túy bị thu giữ của bị cáo M khi bị bắt quả tang là vật cấm lưu

hành đã được niêm phong theo 01 (một) phong bì ghi vụ số: 89/KLGT-PC09

(MT) ngày 16-6-2022, có in hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra

Công an thành phố K - tỉnh An Giang cùng các chữ ký ghi tên Nguyễn Văn Ây,

Nguyễn Thị Mỹ Hà. Xét, tịch thu tiêu hủy lượng ma túy này theo điểm c khoản 1

Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng

hình sự.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 01-11-2022 giữa Cơ quan Cảnh

sát Điều tra - Công an thành phố K với Chi cục thi hành án dân sự thành phố K).

Về các vấn đề khác:

Trường hợp Trần Thị Thu M khai mua ma túy của Nguyễn Vũ Hải, Hải

không thừa nhận, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.

Về án phí và quyền kháng cáo:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.

Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h

khoản 1 Điều 52; Điều 53 và Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Tuyên bố bị cáo Trần Thị Thu M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma

túy”;

Xử phạt: Trần Thị Thu M 02 (hai) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bắt tạm

giam 06-12-2022 (ngày sáu, tháng mười hai, năm hai nghìn không trăm hai mươi

hai).

Căn cứ Điều 46 và Điều 47 của Bộ luật Hình sự đã được sửa đổi, bổ sung

năm 2017; Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ

sung năm 2017;

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) phong bì được niêm phong ghi vụ số:

89/KLGT-PC09 (MT) ngày 16-6-2022, có in hình dấu tròn màu đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố K - tỉnh An Giang cùng các chữ ký ghi tên Nguyễn Văn Ây, Nguyễn Thị Mỹ Hà.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 01-11-2022 giữa Cơ quan Cảnh

sát Điều tra - Công an thành phố K với Chi cục thi hành án dân sự thành phố K).

Căn cứ khoản 2 Điều 136 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm

2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Trần Thị Thu M phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án

phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu

cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Riêng thời hạn kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng

mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ