- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương nguyễn Phước A - phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (điều 175 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Dương Nguyễn Phước A phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”;
- Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 175 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 89/2022/HS-ST Ngày: 24/9/2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Văn Trình
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Trần Văn Hổ
2. Trịnh Ngọc Hồng
-Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Vương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Thư - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 68/2022/TLST-HS ngày 13/9/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2022/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2022, đối với bị cáo:
Dƣơng Nguyễn Phƣớc A (Cù Lự), sinh năm 1996 tại tỉnh Bến Tre; nơi cư trú: Số 122B1, Khu phố A, Phường T, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre; trình độ văn hóa: 09/12; nghề nghiệp: không; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Anh K, sinh năm 1970 và Nguyễn Kim H, sinh năm 1969; bị cáo chưa có vợ, con;
Nhân thân: Ngày 28/7/2014, bị Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm tuyên phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chấp hành xong bản án ngày 11/11/2015). Ngày 20/4/2016, bị Công an phường 8, thành phố Bến Tre ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Ngày 09/02/2018, bị Ủy ban nhân dân phường 8, thành phố Bến Tre ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại phường thời hạn 03 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” (chấp hành xong ngày 08/5/2018); Ngày 11/5/2022, bị Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre xử phạt 01 năm 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (hiện đang chấp hành án tại Trại giam Châu Bình theo Quyết định thi hành án phạt tù số 62/2022/QĐ-CA ngày 16/6/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre).
Tiền án: Ngày 11/3/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre xử phạt 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Bản án số 16/2020/HS-ST, chấp hành xong ngày 20/12/2020);
Tiền sự: không;
Bị cáo hiện đang chấp hành án phạt tù Bản án số 42/2022/HSST ngày 11/5/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 05/01/2022, hiện đang được trích xuất đến Nhà tạm giữ Công an thành phố Bến Tre từ ngày 25/8/2022 đến ngày 25/9/2022, có mặt.
- Bị hại: Nguyễn Thanh L, sinh năm 1965, nơi cư trú: Số 351E1, khu phố M, Phường B, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Vắng mặt
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Bá T, sinh năm 1961, nơi cư trú: Số 351E1, khu phố M, Phường B, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ ngày 19/12/2021, Dương Nguyễn Phước A cùng Nguyễn Thanh L (sinh năm: 1992; ĐKTT: 351E1, khu phố M, phường B, thành phố Bến Tre) thuê phòng số 24, nhà nghỉ AB thuộc ấp T, xã P, thành phố Bến Tre để nghỉ qua đêm. Đến khoảng 01 giờ ngày 20/12/2021, Phước A hỏi mượn xe mô tô hiệu Honda, loại Wave, màu đỏ-đen-bạc, BKS: 71B3-565.21 của L để đi rước bạn thì L đồng ý. Phước A điều khiển xe mô tô trên của L đến xã Mỹ Thạnh An, thành phố Bến Tre rước bạn tên T (không rõ họ tên, địa chỉ) đến tiệm game bắn cá ở phường 5, thành phố Bến Tre. Tại đây, Phước A vào chơi game bắn cá được một lúc thì hết tiền nên nảy sinh ý định cầm xe của anh L để lấy tiền chơi game tiếp. Để thực hiện ý định, Phước A liền nhờ Nguyễn Văn D (tên thường gọi là M; sinh năm: 1993; ĐKTT: khu phố B, phường B, thành phố Bến Tre) là chủ tiệm game bắn cá cầm xe mô tô trên cho một người lạ mặt được 5.000.000 đồng và Phước A chơi game bắn cá tiếp cho đến khi hết số tiền trên. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày 20/12/2021, Phước A quay trở lại nhà nghỉ và nói cho L biết đã cầm xe của Lâm nên cả hai xảy ra cự cải với nhau. Một lúc sau, Phước A mượn điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus 16GB, màu bạc, của L để chơi game thì được L đồng ý. Chơi được một lúc, Phước A cầm điện thoại đi đến tiệm game bắn cá để chơi game tiếp và tiếp tục nảy sinh ý định cầm điện thoại của L để lấy tiền tiêu xài nên Phước A tiếp tục nhờ Nguyễn Văn D cầm điện thoại trên cho một người lạ mặt được 2.000.000 đồng lấy tiền chơi game hết rồi bỏ trốn. Riêng L sau đó có điện thoại cho Phước A để đòi lại tài sản nhưng không liên lạc được nên trình báo Cơ quan Công an. Hiện tài sản không thu hồi được.
Theo Bản kết luận định giá tài sản số 204/KL-HĐĐG ngày 18/3/2022 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Bến Tre kết luận:
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave, màu đỏ đen bạc, số máy: JA39E0503982, số khung: 3903HY528828, biển số: 71B3-565.21. Trị giá tài sản ngày 20/12/2021: 12.950.000 đồng;
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus 16GB, màu bạc. Trị giá tài sản ngày 20/12/2021: 1.400.000 đồng.
Quá trình điều tra, Dương Nguyễn Phước A đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ khác đã thu thập được. Bị hại Nguyễn Thanh L yêu cầu Phước Anh bồi thường giá trị tài sản bị chiếm đoạt không thu hồi được theo định giá là 14.350.000 đồng. Bị cáo đồng ý bồi thường nhưng chưa bồi thường.
Tại cáo trạng số 73/CT-VKSTPBT ngày 12/9/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre đã truy tố bị cáo Dương Nguyễn Phước A về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung cáo trạng và đề nghị:
+ Về hình phạt chính: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo 09 tháng đến 01 năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
+ Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự, tổng hợp với hình phạt 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù của bản án số 42/2022/HSST ngày 11/5/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của cả 02 bản án.
+ Về hình phạt bổ sung: đề nghị không áp dụng.
+ Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho người bị hại số tiền 14.350.000 đồng.
- Bị cáo khai nhận: Vào khoảng 19 giờ ngày 19/12/2021, bị cáo cùng Nguyễn Thanh L thuê phòng số 24, nhà nghỉ AB thuộc ấp Bình Thành, xã Bình Phú, thành phố Bến Tre để nghỉ qua đêm. Đến khoảng 01 giờ ngày 20/12/2021, bị cáo hỏi mượn xe mô tô hiệu Honda, loại Wave, màu đỏ-đen-bạc, BKS: 71B3-565.21 của L để đi rước bạn thì L đồng ý. Bị cáo điều khiển xe mô tô trên của L đến xã Mỹ Thạnh An, thành phố Bến Tre rước bạn tên T (không rõ họ tên, địa chỉ) đến tiệm game bắn cá ở phường 5, thành phố Bến Tre để bị cáo chơi game bắn cá được một lúc thì hết tiền nên bị cáo nhờ Nguyễn Văn D là chủ tiệm game bắn cá cầm xe mô tô trên cho một người lạ mặt được 5.000.000 đồng để tiếp tục chơi game và hết số tiền trên. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày 20/12/2021, bị cáo quay trở lại nhà nghỉ và nói cho L biết đã cầm xe của L nên cả hai xảy ra cự cải với nhau. Một lúc sau, bị cáo mượn điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus 16GB, màu bạc, của L để chơi game thì được L đồng ý. Chơi được một lúc, bị cáo cầm điện thoại của L nói đi đón bạn rồi đi đến tiệm game bắn cá để chơi game tiếp và tiếp tục nhờ Nguyễn Văn D cầm điện thoại trên cho một người lạ mặt được 2.000.000 đồng lấy tiền chơi game hết rồi bỏ trốn. Bị cáo đồng ý bồi thường giá trị tài sản không thu hồi được theo giá trị định giá. Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo và không khiếu nại các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an thành phố Bến Tre, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, trong quá trình điều tra đã có lời khai đầy đủ, rõ ràng, sự vắng mặt của bị hại không làm ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị hại là phù hợp quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố Tụng hình sự.
Lời khai nhận tội của bị cáo Dương Nguyễn Phước A tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra, đủ cơ sở xác định: vào ngày 20/12/2021, trên địa bàn thành phố Bến Tre Dương Nguyễn Phước A đã có hành vi mượn của anh Nguyễn Thanh L 01 xe mô tô BKS: 71B3-565.21 trị giá 12.950.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone trị giá 1.400.000 đồng sau đó bỏ trốn để chiếm đoạt các tài sản nêu trên. Tổng giá trị tài sản Phước A chiếm đoạt của Nguyễn Thanh L là 14.350.000 đồng.
Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận biết rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm nhưng xuất phát từ động cơ tư lợi bất chính, bị cáo đã cố ý lạm dụng sự tin tưởng, tín nhiệm của bị hại đối với bị cáo để chiếm đoạt tài sản của bị hại với giá trị là 14.350.000 đồng. Vì vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre đã truy tố bị cáo về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng luật định.
Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, lợi dụng chủ sở hữu tin tưởng, giao tài sản cho bị cáo quản lý để thực hiện hành vi phạm tội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn. Khi bị cáo thực hiện tội phạm đã gây ra tâm lý lo sợ cho quần chúng nhân dân trong lao động, trong sinh hoạt hàng ngày.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị kết án, bị xử lý hành chính; về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự : bị cáo đang có 01 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” chưa được xóa mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội mới với lỗi cố ý nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ: “Người phạm tội thành khẩn khai báo” theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi bị cáo gây ra, xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và có tác dụng phòng ngừa chung. Đồng thời áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt của bản án này với hình phạt của bản án số 42/2022/HSST ngày 11/5/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre để buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của cả 02 bản án.
Lời phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh đối với bị cáo là “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo phù hợp với quy định pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: vật chứng không thu hồi được nên không đề cập. Về trách nhiệm dân sự: bị hại Nguyễn Thanh L yêu cầu bị cáo bồi thường giá trị tài sản bị chiếm đoạt không thu hồi được theo định giá là 14.350.000 đồng, bị cáo đồng ý bồi thường nên buộc bị cáo bồi thường.
Về hình phạt bổ sung: không áp dụng do bị cáo không có tài sản và nghề nghiệp ổn định.
Về án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm bị cáo phải nộp theo quy định của Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 23, Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Dương Nguyễn Phước A phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”;
1. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Dương Nguyễn Phước A 01 (một) năm tù.
Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự, tổng hợp với hình phạt 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù của bản án số 42/2022/HSST ngày 11/5/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre. Buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung của cả 02 bản án là 02 (hai) năm 08 (tám) tháng tù.
Thời hạn tù tính từ ngày 05/01/2022.
2. Về trách nhiệm dân sự, áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự, các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Buộc bị cáo Dương Nguyễn Phước A phải bồi thường cho Nguyễn Thanh L số tiền 14.350.000 (mười bốn triệu ba trăm năm mươi triệu) đồng.
Kể từ khi Bản án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, số tiền bồi thường nêu trên nếu chưa được thi hành thì hàng tháng còn phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
3. Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 23, Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Dương Nguyễn Phước A phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Án phí dân sự sơ thẩm bị cáo Dương Nguyễn Phước A phải nộp 717.000 (bảy trăm mười bảy nghìn) đồng.
4. Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
5. Trường hợp Bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bến Tre (1b); - VKSND tỉnh Bến Tre (1b); - VKSND thành phố Bến Tre (1b); - Cơ quan điều tra CATP Bến Tre (1b); - Cơ quan THAHS CATP Bến Tre (1b); - Chi cục THA dân sự thành phố Bến Tre (1b); - Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre (1b); - UBND P. 8, TP. Bến Tre (1b); - Bị cáo, Bị hại, NCQLNVLQ (3b); - Bộ phận thi hành án Hình sự (3b); - Lưu (văn phòng, hồ sơ vụ án) (2b). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Ngô Văn Trình |