- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Ngọc T - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc T phạm t i “Mua bán trái phép chất ma t y”.
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 89/2021/HSST Ngày: 07/12/2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ngô Văn Trình.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hàn Nhựt Thái;
2. Bà Nguyễn Thị Loan Phụng.
-Thƣ ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Phương Yến là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre tham gia phiên toà: Ông Phan Thanh Vàng - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 12 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 85/2021/TLST-HS ngày 10 tháng 11 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2021/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 11 năm 2021, đối với bị cáo:
Trần Ngọc T, sinh năm 1990 tại tỉnh Bến Tre; Nơi đăng ký h khẩu thư ng tr : Khu phố A, phư ng PK, thành phố BT, tỉnh Bến Tre; Nghề nghiệp: Không; Trình đ văn hóa: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân t c: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Con ông Trần Văn L (đã chết) và bà Nguyễn Ngọc H, sinh năm 1959; Vợ, con: Chưa có; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 09/6/2021, đến ngày 12/6/2021 chuyển tạm giam cho đến nay. (Có mặt)
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Dương Quốc V, sinh năm 1990;
Nơi cư tr : Khu phố D, Phư ng E, thành phố BT, tỉnh Bến Tre. (Vắng mặt)
- Bà Huỳnh Phương L1, sinh năm 1997;
Nơi cư tr : Phư ng F, Thành phố MT, tỉnh Tiền Giang. (Vắng mặt)
* Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Thanh P, sinh năm 1971;
Nơi cư tr : Ấp BĐ, xã HM, huyện MCN, tỉnh Bến Tre. (Vắng mặt)
Ông Lê Minh T1, sinh năm 2001;
Nơi cư tr : Khu phố C, Phư ng H, thành phố BT, tỉnh Bến Tre. (Có mặt)
- Ông Võ Đình B, sinh năm 1985;
Nơi cư tr : Ấp TQN, xã TT, huyện CT, tỉnh Bến Tre. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, n i dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 10 gi 50 ph t ngày 09/6/2021, lực lượng Cảnh sát điều tra t i phạm về ma t y Công an tỉnh Bến Tre phối hợp với lực lượng Cảnh sát điều tra t i phạm về ma t y Công an thành phố Bến Tre tuần tra trên địa bàn Phư ng 4, thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Khi đến khu vực đầu hẻm liên khu phố thu c khu phố B, Phư ng D, thành phố BT, tỉnh Bến Tre thì phát hiện bị cáo Trần Ngọc T đang điều khiển xe mô tô biển số 63B4-084.30 có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Qua kiểm tra trên ngư i của bị cáo T phát hiện trong t i quần phía trước, bên phải của bị cáo T đang mặc có 01 t i nylon hàn kín bốn phía, trong đó có m t phía có rãnh khép và vạch màu xanh, bên trong có chứa tinh thể màu trắng nghi là ma t y. Lực lượng Công an tiếp tục tiến hành kiểm tra xe mô tô của bị cáo T phát hiện ở móc phía trước dưới yên xe có 01 t i nylon màu trắng, bên trong có m t h p giấy, bên trong h p giấy có 01 t i nylon màu trắng, hàn kín ba phía, phía còn lại có rãnh khép và vạch màu đỏ, bên trong có 16 t i nylon màu trắng hàn kín bốn phía, trong đó có m t phía có rãnh khép và vạch màu xanh, bên trong mỗi t i đều có chứa tinh thể màu trắng nghi là ma t y. Bị cáo T khai nhận các t i nylon chứa tinh thể màu trắng là ma t y đá của bị cáo T cất giấu nhằm mục đích bán lại cho ngư i khác nên lực lượng Công an tiến hành thu giữ tang vật và lập biên bản bắt ngư i phạm t i quả tang đối với bị cáo T.
Vật chứng thu giữ:
Thu của bị cáo T:
- Thu trong t i quần phía trước, bên phải của bị cáo T đang mặc: 01 t i nylon màu trắng hàn kín bốn phía, trong đó có m t phía có rãnh khép và vạch màu xanh, bên trong có chứa tinh thể màu trắng nghi là ma t y (Sau khi thu giữ được niêm phong trong phong bì ký hiệu M1).
- Thu ở móc phía trước dưới yên xe mô tô biển số 63B4-084.30: 01 t i nylon màu trắng, hàn kín ba phía, phía còn lại có rãnh khép và vạch màu đỏ, bên trong có 16 t i nylon màu trắng hàn kín bốn phía, trong đó có m t phía có rãnh khép và vạch màu xanh, bên trong mỗi t i đều có chứa tinh thể màu trắng nghi là ma t y (Sau khi thu giữ được niêm phong trong phong bì ký hiệu M2).
- 01 điện thoại di đ ng nhãn hiệu PHILIPS, màu đỏ đen, số IMEI 1: 860272037229774, số IMEI 2: 860272037330770, có gắn 02 sim số: 0984996050 và 0704916050.
- 01 điện thoại di đ ng nhãn hiệu Redmi màu đen, số IMEI 1: 865805044932982/01, số IMEI 2: 865805044932990/01, có gắn sim số 0979063860.
- Tiền Việt Nam: 1.400.000 đồng.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu SYM, số loại ATTILA, màu đen, biển số 63B9-084.30, số máy: VMVTBBD026068, số khung: RLGKA12HDAD026068.
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của bị cáo T ở khu phố A, phư ng PK, thành phố BT, tỉnh Bến Tre, lực lượng Công an tiếp tục thu giữ:
- Thu trong khay nhựa hình tròn (có 04 ngăn) ở dưới bàn gỗ đặt trong phòng ngủ của bị cáo T: 04 t i nylon, trong đó có 02 t i nylon hàn kín ba phía, phía còn lại có rãnh khép và vạch màu đỏ; 02 t i nylon hàn kín bốn phía, có m t phía có rãnh khép và vạch màu đỏ, bên trong 04 t i nylon trên đều có chứa tinh thể màu trắng nghi là ma t y (Sau khi thu giữ được niêm phong trong phong bì ký hiệu K1).
- Thu trên nệm trong phòng ngủ của bị cáo T: 02 t i nylon hàn kín ba phía, phía còn lại có rãnh khép và vạch màu đỏ, bên trong đều có chứa tinh thể màu trắng nghi là ma t y (Sau khi thu giữ được niêm phong trong phong bì ký hiệu K2).
- 02 khay nhựa hình tròn.
- 01 cân điện tử màu đen.
- 01 kéo kim loại màu trắng.
- 25 t i nylon, bên trong rỗng.
- 01 h p giấy bên trong có 95 t i nylon, bên trong rỗng.
- 02 đoạn ống nhựa màu trắng, có 01 đầu vót nhọn.
- 01 chai nhựa có nắp đậy màu đỏ, trên nắp có gắn nỏ thủy tinh và ống nhựa màu đen.
- 01 cu n băng keo màu trắng.
Qua làm việc, bị cáo T khai nhận: Vào khoảng đầu tháng 01/2021, do không có tiền tiêu xài và ma t y để sử dụng nên bị cáo nảy sinh ý định bán ma t y để kiếm l i. Để thực hiện ý định, bị cáo mua ma t y của m t ngư i thanh niên tên D (không rõ họ và địa chỉ cụ thể) ở Phư ng G, thành phố BT, tỉnh Bến Tre rồi phân ra thành nhiều t i nhỏ để bán. Vào sáng ngày 09/6/2021, m t ngư i nam thanh niên tên T2 (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) điện thoại qua Zalo cho bị cáo hỏi mua 1.600.000 đồng ma t y đá thì bị cáo đồng ý và hẹn giao dịch ở phía sau siêu thị Co.opmark. Sau khi thỏa thuận xong, bị cáo lấy 16 t i ma t y đá để trong h p giấy bỏ trong t i nylon, móc ở phía trước dưới yên xe mô tô biển số 63B9-084.30 rồi điều khiển xe đi. Khi đến khu vực đầu hẻm liên khu phố thu c khu phố B, Phư ng D, thành phố BT, tỉnh Bến Tre thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện và thu giữ tang vật như trên. Đối với 01 t i nylon bên trong có chứa tinh thể màu trắng thu giữ trong t i quần phía trước, bên phải của bị cáo đang mặc và 06 t i nylon bên trong có chứa tinh thể màu trắng thu giữ tại nhà của bị cáo cũng là ma t y đá của bị cáo cất giấu để sử dụng và bán lại cho ngư i khác nhưng chưa kịp bán thì cũng bị lực lượng Công an phát hiện.
Theo các kết luận giám định số 57A/2021/GĐMT ngày 10/6/2021 và số 57B/2021/GĐMT ngày 14/6/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bến Tre kết luận:
- Tinh thể màu trắng đựng trong 01 t i nylon được niêm phong trong phong bì kí hiệu M1 gửi giám định là ma t y, loại Methamphetamine, khối lượng: 0,1694 gam.
- Tinh thể màu trắng đựng trong 16 t i nylon được niêm phong trong phong bì kí hiệu M2 gửi giám định là ma t y, loại Methamphetamine, khối lượng: 1,8926 gam.
- Tinh thể màu trắng đựng trong 04 t i nylon được niêm phong trong phong bì kí hiệu K1 gửi giám định là ma t y, loại Methamphetamine, khối lượng: 7,1063 gam.
- Tinh thể màu trắng đựng trong 02 t i nylon được niêm phong trong phong bì kí hiệu K2 gửi giám định là ma t y, loại Methamphetamine, khối lượng: 1,8370 gam.
Ngoài ra, bị cáo T còn tự khai nhận: Trước khi bị bắt quả tang, bị cáo đã bán ma t y cho nhiều ngư i nhưng chỉ xác định được những ngư i sau:
1/ Bán cho Nguyễn Thanh P (sinh năm 1971; h khẩu thư ng tr : ấp BĐ, xã HM, huyện MCN, tỉnh Bến Tre) 02 lần/02 t i ma t y đá thu được 400.000 đồng, cụ thể:
- Lần thứ nhất: Vào khoảng 10 gi ngày 03/6/2021, tại phòng trọ của P ở xã PH, thành phố BT, tỉnh Bến Tre, bị cáo bán cho P 01 t i ma t y đá thu được 200.000 đồng.
- Lần thứ hai: Vào khoảng 10 gi ngày 09/6/2021, cũng tại phòng trọ của P, bị cáo bán cho P 01 t i ma t y đá thu được 200.000 đồng.
2/ Bán cho Lê Minh T1 (sinh năm 2001, h khẩu thư ng tr : khu phố C, Phư ng H, thành phố BT, tỉnh Bến Tre) 03 lần/03 t i ma t y đá thu được 700.000 đồng, cụ thể:
- Lần thứ nhất: Vào khoảng 22 gi (không rõ ngày) cuối tháng 5/2021, tại nhà của bị cáo, bị cáo bán cho T1 01 t i ma t y đá thu được 300.000 đồng.
- Lần thứ hai: Vào buổi tối ngày 02/6/2021, tại nhà của bị cáo, bị cáo bán cho T1 01 t i ma t y đá thu được 200.000 đồng.
- Lần thứ ba: Vào khoảng 22 gi ngày 04/6/2021, tại nhà của bị cáo, bị cáo bán cho T1 01 t i ma t y đá thu được 200.000 đồng.
3/ Bán cho Võ Đình B (sinh năm 1985; h khẩu thư ng tr : ấp TQN, xã TT, huyện CT, tỉnh Bến Tre) 01 lần: Vào khoảng 14 gi ngày 04/6/2021, tại nhà của bị cáo, bị cáo bán cho B 01 t i ma t y đá thu được 200.000 đồng.
4/ Bán cho Dương Quốc V (sinh năm: 1990, h khẩu thư ng tr : khu phố D, Phư ng E, thành phố BT, tỉnh Bến Tre) 01 lần: Vào buổi tối ngày 07/6/2021, tại nhà của bị cáo, bị cáo bán cho V 01 t i ma t y đá thu được 200.000 đồng.
Tại Bản cáo trạng số 85/CT-VKSTPBT ngày 08 tháng 11 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre đã truy tố bị cáo T về t i “Mua bán trái phép chất ma t y” theo quy định tại các điểm b, i khoản 2 Điều 251 B luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị:
- Về t i danh và hình phạt chính: Áp dụng các điểm b, i khoản 2 Điều 251; các điểm r, s, khoản 1 và khoản 2, Điều 51; Điều 38 B luật Hình sự: xử phạt bị cáo T từ 08 năm đến 09 năm tù về t i “Mua bán trái phép chất ma t y”.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng do bị cáo T không có thu nhập ổn định.
- Về biện pháp tư pháp: Áp dụng các Điều 47, 48 B luật Hình sự; Điều 106 B luật tố tụng Hình sự:
+ Tịch thu, tiêu hủy: Chất ma t y còn lại sau giám định, gồm: Mẫu vật ký hiệu M1 có khối lượng 0,1107 gam Methamphetamine, Mẫu vật ký hiệu M2 có khối lượng 1,7147 gam Methamphetamine, Mẫu vật ký hiệu K1 có khối lượng 6,9152 gam Methamphetamine, Mẫu vật ký hiệu K2 có khối lượng 1,7363 gam Methamphetamine. Mẫu vật và vỏ bao gói được niêm phong trong phong bì số 57/2021 có chữ ký ghi tên Phan Trung T3, Nguyễn Hải Đăng K và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bến Tre, do đây là vật Nhà nước cấm lưu hành; 01 sim điện thoại có số 0979063860 thu của bị cáo T do bị cáo dùng liên hệ mua bán ma t y; 02 khay nhựa hình tròn, 01 cân điện tử màu đen, 01 kéo kim loại màu trắng, 25 t i nylon, bên trong rỗng, 01 h p giấy bên trong có 95 t i nylon, bên trong rỗng, 02 đoạn ống nhựa màu trắng, có 01 đầu vót nhọn, 01 chai nhựa có nắp đậy màu đỏ, trên nắp có gắn nỏ thủy tinh và ống nhựa màu đen, 01 cu n băng keo màu trắng, do bị cáo T dùng phân ma t y để bán và dùng để sử dụng ma t y.
+ Tịch thu, n p ngân sách Nhà Nước 01 điện thoại di đ ng nhãn hiệu Redmi màu đen, số Imei 1: 865805044932982/01, số Imei 2: 865805044932990/01 thu của bị cáo T do bị cáo dùng liên hệ mua bán ma t y.
+ Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu SYM, số loại ATTILA, màu đen, biển số 63B9-084.30, số máy: VMVTBBD026068, số khung: RLGKA12HDAD026068 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 63B9-084.30 mang tên Huỳnh Phương L1, hiện chưa xác minh làm rõ nên giao Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre tiếp tục xác minh và xử lý theo thẩm quyền.
+ Ghi nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre đã trao trả cho ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan V 01 điện thoại di đ ng nhãn hiệu PHILIPS, màu đỏ đen, số IMEI 1: 860272037229774, số IMEI 2: 860272037330770, có gắn 02 sim số: 0984996050, 0704916050 và số tiền 1.400.000 đồng.
+ Bu c bị cáo T n p số tiền 1.500.000 đồng do bán ma t y cho P, T1, V và B có được để tịch thu, n p ngân sách Nhà nước.
- Đối với các lần bị cáo T khai bán ma t y cho đối tượng tên T2 (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể), do hiện tại chỉ có duy nhất l i khai của bị cáo T nên không đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo đối với các lần bán ma t y này.
- Đối với đối tượng tên D do không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre chưa làm việc được, khi nào làm việc được sẽ xử lý sau.
Bị cáo T khai nhận: Vào khoảng đầu tháng 01/2021, do không có tiền tiêu xài và ma t y để sử dụng nên bị cáo nảy sinh ý định bán ma t y để kiếm l i. Để thực hiện ý định, bị cáo mua ma t y của m t ngư i thanh niên tên D (không rõ họ và địa chỉ cụ thể) ở Phư ng G, thành phố BT, tỉnh Bến Tre rồi phân ra thành nhiều t i nhỏ để bán. Vào sáng ngày 09/6/2021, m t ngư i nam thanh niên tên T2 (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể) điện thoại qua Zalo cho bị cáo hỏi mua 1.600.000 đồng ma t y đá thì bị cáo đồng ý và hẹn giao dịch ở phía sau siêu thị Co.opmark. Sau khi thỏa thuận xong, bị cáo lấy 16 t i ma t y đá để trong h p giấy bỏ trong t i nylon, móc ở phía trước dưới yên xe mô tô biển số 63B9-084.30 rồi điều khiển xe đi. Khi đến khu vực đầu hẻm liên khu phố thu c khu phố B, phư ng D, thành phố BT, tỉnh Bến Tre thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện và thu giữ tang vật như trên. Ngoài ra, 01 t i nylon bên trong có chứa tinh thể màu trắng thu giữ trong t i quần phía trước, bên phải của bị cáo đang mặc và 06 t i nylon bên trong có chứa tinh thể màu trắng thu giữ tại nhà của bị cáo cũng là ma t y đá của bị cáo cất giấu để sử dụng và bán lại cho ngư i khác nhưng chưa kịp bán thì cũng bị lực lượng Công an phát hiện. Ngoài ra, trước khi bị bắt quả tang, bị cáo đã bán ma t y cho nhiều ngư i nhưng chỉ xác định được đã bán 07 lần 07 t i ma t y đá cho Nguyễn Thanh P, Lê Minh T1, Võ Đình B, Dương Quốc V thu được 1.500.000 đồng. Bị cáo đồng ý với kết luận giám định, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và xin được giảm nhẹ hình phạt.
Ngư i làm chứng Lê Minh T trình bày: Từ cuối tháng 5/2021 đến tháng 6/2021, tại nhà của bị cáo T, ông mua của bị cáo T 03 lần 03 t i ma t y đá với giá 700.000 đồng (01 lần 300.000 đồng, 02 lần mỗi lần 200.000 đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở n i dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, H i đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an thành phố Bến Tre, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đ ng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của B luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những ngư i tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Việc vắng mặt của ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và ngư i làm chứng, bị cáo T không có ý kiến, Viện kiểm sát đề nghị xét xử vắng mặt những ngư i này. Xét thấy việc vắng mặt của những ngư i này không ảnh hưởng đến việc xét xử nên H i đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những ngư i này là phù hợp theo quy định tại Điều 292, Điều 293 B luật tố tụng hình sự.
L i khai nhận của bị cáo T phù hợp biên bản bắt ngư i phạm t i quả tang ngày 09/6/2021, kết luận giám định, đối chất, kết quả thực nghiệm điều tra, l i khai của những ngư i làm chứng, cùng các tài liệu khác thu thập được trong quá trình điều tra, có đủ cơ sở xác định: Trong khoảng th i gian từ cuối tháng 5/2021 đến ngày 09/6/2021, trên địa bàn thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre, bị cáo T đã có hành vi 07 lần bán trái phép 07 t i ma t y đá cho Nguyễn Thanh P, Lê Minh T1, Võ Đình B và Dương Quốc V thu được 1.500.000 đồng. Ngoài ra, vào ngày 09/6/2021, bị cáo T còn cất giấu tổng c ng 11,0053 gam ma t y loại Methamphetamine để bán lại cho ngư i khác nhưng chưa kịp bán thì bị lực lượng Công an phát hiện.
Bị cáo T là ngư i có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận biết được các chất ma t y bị pháp luật cấm mua bán nhưng vẫn cố ý thực hiện với mục đích kiếm l i. Bị cáo đã 07 lần bán trái phép 07 t i ma t y đá cho ngư i khác và còn cất giấu tổng c ng 11,0053 gam ma t y loại Methamphetamine để bán lại cho ngư i khác. Vì vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre đã truy tố bị cáo T về t i “Mua bán trái phép chất ma t y” theo quy định tại các điểm b, i khoản 2 Điều 251 B luật Hình sự là có căn cứ, đ ng pháp luật.
Hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến sự quản lý của Nhà nước đối với các chất ma t y, đe dọa xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và sự phát triển bình thư ng của con ngư i, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã h i nơi các bị cáo cư tr và thực hiện t i phạm. Hành vi phạm t i của bị cáo là nguyên nhân dẫn đến những t i phạm và tệ nạn xã h i khác, gây tâm lý bất an trong quần ch ng nhân dân.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân, bị cáo T chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo T được hưởng là ngư i phạm t i tự th , thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và gia đình bị cáo có công với cách mạng theo quy định tại các điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 B luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức đ hậu quả do bị cáo gây ra, việc cách ly bị cáo ra khỏi xã h i m t th i gian là điều cần thiết nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã h i và có tác dụng phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo T không có thu nhập ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu, tiêu hủy:
+ Chất ma t y còn lại sau giám định, gồm: Mẫu vật ký hiệu M1 có khối lượng 0,1107 gam Methamphetamine, Mẫu vật ký hiệu M2 có khối lượng 1,7147 gam Methamphetamine, Mẫu vật ký hiệu K1 có khối lượng 6,9152 gam Methamphetamine, Mẫu vật ký hiệu K2 có khối lượng 1,7363 gam Methamphetamine. Mẫu vật và vỏ bao gói được niêm phong trong phong bì số 57/2021 có chữ ký ghi tên Phan Trung T3, Nguyễn Hải Đăng K và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bến Tre, do đây là vật Nhà nước cấm lưu hành.
+ 01 sim điện thoại có số 0979063860 thu của bị cáo T do bị cáo dùng liên hệ mua bán ma t y.
+ 02 khay nhựa hình tròn; 01 cân điện tử màu đen; 01 kéo kim loại màu trắng; 25 t i nylon bên trong rỗng; 01 h p giấy bên trong có 95 t i nylon bên trong rỗng; 02 đoạn ống nhựa màu trắng có 01 đầu vót nhọn; 01 chai nhựa có nắp đậy màu đỏ, trên nắp có gắn nỏ thủy tinh và ống nhựa màu đen; 01 cu n băng keo màu trắng, do bị cáo T dùng phân ma t y để bán và dùng để sử dụng ma t y.
- Tịch thu, n p ngân sách Nhà Nước: 01 điện thoại di đ ng nhãn hiệu Redmi màu đen, số Imei 1: 865805044932982/01, số Imei 2: 865805044932990/01 thu của bị cáo T do bị cáo dùng liên hệ mua bán ma t y.
- Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu SYM, số loại ATTILA, màu đen, biển số 63B9-084.30, số máy: VMVTBBD026068, số khung: RLGKA12HDAD026068 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 63B9-084.30 mang tên Huỳnh Phương L, hiện chưa xác minh làm rõ nên giao Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre tiếp tục xác minh và xử lý theo thẩm quyền.
- Ghi nhận Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre đã trao trả cho ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan V 01 điện thoại di đ ng nhãn hiệu PHILIPS, màu đỏ đen, số IMEI 1: 860272037229774, số IMEI 2: 860272037330770, có gắn 02 sim số: 0984996050, 0704916050 và số tiền 1.400.000 đồng.
- Bu c bị cáo T n p số tiền 1.500.000 đồng do bán ma t y cho P, T1, V và B có được để tịch thu, n p ngân sách Nhà nước.
Đối với các lần bị cáo T khai bán ma t y cho đối tượng tên T2 (không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể), do hiện tại chỉ có duy nhất l i khai của bị cáo T nên không đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự cho bị cáo đối với các lần bán ma t y này.
Đối với đối tượng tên D do không rõ họ tên và địa chỉ cụ thể, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre chưa làm việc được, kiến nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre tiếp tục xác minh để xử lý theo quy định.
L i phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa về t i danh; điều luật áp dụng; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo phù hợp với quy định nên được H i đồng xét xử chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Trần Ngọc T phạm t i “Mua bán trái phép chất ma t y”.
1. Áp dụng các điểm b, i khoản 2 Điều 251; các điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 B luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Trần Ngọc T 08 (tám) năm tù.
Th i hạn tù tính từ ngày 09/6/2021.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng các Điều 47, 48 B luật Hình sự; Điều 106 B luật Tố tụng Hình sự:
- Tịch thu, tiêu hủy:
+ Chất ma t y còn lại sau giám định, gồm: Mẫu vật ký hiệu M1 có khối lượng 0,1107 gam Methamphetamine, Mẫu vật ký hiệu M2 có khối lượng 1,7147 gam Methamphetamine, Mẫu vật ký hiệu K1 có khối lượng 6,9152 gam Methamphetamine, Mẫu vật ký hiệu K2 có khối lượng 1,7363 gam Methamphetamine. Mẫu vật và vỏ bao gói được niêm phong trong phong bì số 57/2021 có chữ ký ghi tên Phan Trung T3, Nguyễn Hải Đăng K và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bến Tre.
+ 01 (m t) sim điện thoại có số 0979063860 thu của bị cáo Trần Ngọc T.
+ 02 (hai) khay nhựa hình tròn; 01 (m t) cân điện tử màu đen; 01 kéo kim loại màu trắng; 25 (hai mươi lăm) t i nylon bên trong rỗng; 01 (m t) h p giấy bên trong có 95 t i nylon bên trong rỗng; 02 (hai) đoạn ống nhựa màu trắng có 01 đầu vót nhọn; 01 (m t) chai nhựa có nắp đậy màu đỏ, trên nắp có gắn nỏ thủy tinh và ống nhựa màu đen; 01 (m t) cu n băng keo màu trắng.
- Tịch thu, n p ngân sách Nhà Nước: 01 (m t) điện thoại di đ ng nhãn hiệu Redmi màu đen, số Imei 1: 865805044932982/01, số Imei 2: 865805044932990/01 thu của bị cáo Trần Ngọc T.
- Giao Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre tiếp tục xác minh và xử lý theo thẩm quyền 01 (m t) xe mô tô nhãn hiệu SYM, số loại ATTILA màu đen, biển số 63B9-084.30, số máy: VMVTBBD026068, số khung: RLGKA12HDAD026068 và 01 (m t) giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 63B9-084.30 mang tên Huỳnh Phương L.
- Bu c bị cáo Trần Ngọc T n p số tiền 1.500.000 (m t triệu năm trăm nghìn) đồng do bán ma t y có được để tịch thu, n p ngân sách Nhà nước.
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 25/11/2021, hiện Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bến Tre đang quản lý).
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 B luật tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thư ng vụ Quốc h i về án phí, lệ phí Tòa án.
Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Trần Ngọc T phải n p là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
4. Về quyền kháng cáo:
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong th i hạn 15 (mư i lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng ngư i có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bến Tre (1b); - VKSND tỉnh Bến Tre (1b); - VKSND thành phố Bến Tre (1b); - Cơ quan điều tra CATP Bến Tre (1b); - Cơ quan THAHS CATP Bến Tre (1b); - Chi cục THADS thành phố Bến Tre (1b); - Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre (1b); - UBND phư ng PK, TP BT, tỉnh Bến Tre (1b); - Bị cáo, NCQLNVLQ (3b); - B phận thi hành án Hình sự (2b); - Lưu (văn phòng, hồ sơ vụ án) (2b). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Ngô Văn Trình |