- Tranh chấp gì? án hình sự — "Quang Văn K phạm tội: Mua bán trái phép chất ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Về điều luật áp dụng và tội danh:
- Căn cứ chính? Điều 251 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 89/2021/HSST Ngày 15 tháng 6 năm 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ SƠN, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vi Thị Khuyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Dềnh Bá Lồng.
Bà Vi Thị Khiểu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Già Bá Lầu-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Anh Tuấn-Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 88/2021/TLST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2021/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Quang Văn K; tên gọi khác: Không; sinh ngày 29/6/1996 tại xã C, huyện K, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Bản K, xã C, huyện K, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ học vấn: lớp 11/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Quang Văn A và bà Bùi Thị T; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không; tiền án: Có 02 tiền án: Ngày 28/6/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An xử phạt 06 (sáu) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong án phạt tù ngày 12/4/2017, chưa được xóa án tích; Ngày 29/5/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An xử phạt 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Chấp hành xong án phạt tù ngày 29/10/2020, chưa được xóa án tích; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/12/2020 cho đến nay; hiện đang tam giam. Có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Công Thiết. Trợ giúp viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nghệ An. Có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Ông Xeo Văn K; sinh năm 1979; trú tại: Bản K, xã C, huyện K, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
2. Bà Bùi Thị T; sinh năm 1977; trú tại: Bản K, xã C, huyện K, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
Người làm chứng:
1. Anh Xeo Văn Q; sinh năm 2006; trú tại: Bản K, xã C, huyện K, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
Đại diện hợp pháp cho người làm chứng Xeo Văn Q là ông Xeo Văn K (bố đẻ); trú tại: Bản K, xã C, huyện K, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
2. Anh Vi Văn T; sinh năm 2006; trú tại: Bản X, xã C, huyện K, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
Đại diện hợp pháp cho người làm chứng Vi Văn T là ông Vi Văn K (bố đẻ) và bà Lo Thị V (Mẹ đẻ); Cùng trú tại: Bản X, xã C, huyện K, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Người chứng kiến: Anh Vi Văn H; sinh năm 1986; trú tại: Bản K, xã C, huyện K, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ ngày 30/12/2020, Xeo Văn Q, sinh năm 2006, trú tại Bản K, xã C, huyện K, tỉnh Nghệ An nhắn tin cho cho Quang Văn K, sinh năm 1996 (trú cùng bản) để hỏi mua 15 (mười lăm) viên ma túy tổng hợp (Q mua hộ cho một thanh niên tên P) thì K đồng ý. Sau đó, K đi lên đồi thuộc khu vực Bản K, xã C, huyện K, tỉnh Nghệ An gặp và mua 15 (mười lăm) viên ma túy tổng hợp với số tiền 750.000đồng (bảy trăm năm mươi nghìn) của một người đàn ông không quen biết tên H (K đang nợ số tiền trên). Mua được ma túy, K cất dấu vào túi quần bên phải rồi đi bộ về nhà. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, Xeo Văn Q cùng với Vi Văn T, sinh năm 2006, trú tại Bản X, xã C, huyện K, tỉnh Nghệ An đến nhà K để lấy ma túy. Khi đến nơi, Q vào nhà gặp K còn T ngồi chờ bên ngoài, K lấy từ trong túi quần bên phải đang mặc ra 15 (mười lăm) viên ma túy tổng hợp gói bằng bao potylen màu đen bên trong và một lớp bao potylen màu hồng bên ngoài đưa cho Q và nói “Khi mô xong việc thì đưa tiền về cho anh”. Sau khi lấy được ma túy, Q cất dấu vào túi áo bên trái rồi cùng T điều khiển xe đạp điện đi về trường Trung học cơ sở bán trú xã C, huyện K, tỉnh Nghệ An. Khi đến nơi, Q nhắn tin cho P nói “Có hàng rồi, anh xuống cổng quán H mà lấy”. Sau khi trao đổi, Q đồng ý để P đến đón Q và T đi nơi khác để giao dịch ma túy. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, có một nam thanh niên đi xe máy nhãn hiệu HONDA đón Q và T đi đến ngôi nhà hoang tại Bản X, xã C, huyện K, tỉnh Nghệ An. Khi đến nơi, người thanh niên dẫn Q và T đi vào trong nhà còn P đi ra ngoài đổi tiền. Trong lúc Q, T và người thanh niên đang chờ P về để giao dịch ma túy thì bị tổ công tác Công an huyện Kỳ Sơn phối hợp với Ban Công an xã Chiêu Lưu và Ban Công an xã Na Ngoi phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ số tang vật trên. Lợi dụng sơ hở, người thanh niên đến đón Q và T đã bỏ trốn.
Quá trình điều tra xác định số ma túy trên Xeo Văn Q mua của Quang Văn K nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kỳ Sơn đã tiến hành bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Quang Văn K.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại vào hồi 14 giờ, ngày 31/12/2020 đã xác định: Số viên nén màu hồng (nghi là ma túy) thu giữ của Quang Văn K và Xeo Văn Q có tổng khối lượng là 1,45gam (Một phẩy bốn mươi lăm).
Tại kết luận giám định số 113/KL-PC09(Đ2-MT) ngày 05/01/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự công an tỉnh Nghệ An đã kết luận: Mẫu viên nén màu hồng thu giữ của Quang Văn K và Xeo Văn Q gửi tới giám định là ma túy (Methamphetamine).
Tại Cơ quan điều tra, Quang Văn K và Xeo Văn Q đã thành khẩn khai báo và thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Mặc dù biết Xeo Văn Q đang là học sinh chưa đủ 16 tuổi nhưng Quang Văn K vẫn bán ma túy. Đối với Xeo Văn Q khi thực hiện hành vi phạm tội chưa đủ 16 tuổi nên không phải chịu trách nhiệm hình sự, Cơ quan điều tra đã giao cho gia đình và chính quyền địa phương quản lý, giáo dục.
Về vật chứng của vụ án: Số ma túy (Methamphetamine) là vật chứng còn lại có khối lượng 1,25gam (Một phẩy hai mươi lăm) cùng vỏ giấy niêm phong ban đầu đã được Cơ quan điều tra chuyển sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kỳ Sơn bảo quản theo quy định.
Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F5, màu vàng nhạt thu giữ của Xeo Văn Q và 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh da trời thu giữ của Quang Văn K. Quá trình điều tra xác định, chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F5, màu vàng bạc nhạt thu giữ của Xeo Văn Q là của ông Xeo Văn K; chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh da trời thu giữ của Quang Văn K là của bà Bùi Thị T; ông Xeo Văn K và bà Bùi Thị T không biết việc Xeo Văn Q và Quang Văn K sử dụng hai chiếc điện thoại trên để giao dịch mua bán ma túy nên ngày 12/3/2021 Cơ quan CSĐT Công an huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An đã trả lại 02 (hai) chiếc điện thoại trên cho chủ sở hữu.
Cáo trạng số 51/CT-VKS-KS ngày 12/4/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Quang Văn K về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm e, q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung cáo trạng, luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Quang Văn K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm e, q khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Quang Văn K mức án từ 08 (Tám) năm đến 09 (Chín) năm tù; về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo; về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma tuý (Methamphetamine) là vật chứng còn lại có khối lượng 1,25gam (Một phẩy hai mươi lăm) và vỏ giấy niêm phong ban đầu; về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Quang Văn K đồng ý với nội dung bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo không có tranh luận gì.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Về tội danh: Đồng ý với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát. Về hình phạt: Căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ, nguyên nhân, động cơ, mục đích phạm tội, hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt mức án thấp nhất như đề nghị của Kiểm sát viên và đề nghị miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Bị cáo nói lời nói sau cùng: Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Kỳ Sơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Về việc vắng mặt của người tham gia tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt người làm chứng và người chứng kiến, quá trình điều tra đã có lời khai đầy đủ, xét thấy sự vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử là có căn cứ, đúng quy định của Bộ luất Tố tụng hình sự.
Về hành vi của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Quang Văn K đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, phù hợp với Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 19 giờ, ngày 30/12/2020, tại Bản K, xã C, huyện K, tỉnh Nghệ An, Quang Văn K biết Xeo Văn Q, sinh ngày 17/12/2006 (chưa đủ 16 tuổi) nhưng vẫn bán 15 (mười lăm) viên ma túy (Methamphetamine) có khối lượng 1,45gam (Một phẩy bốn mươi lăm) cho Xeo Văn Q.
Vì vậy, hành vi của bị cáo Quang Văn K đã đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm e, q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
“Điều 251 Bộ luật hình sự quy định:
1. Người nào mua bán trái phép chất ma tuý, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
a,………………….
e, Bán ma túy cho người dưới 16 tuổi;
…………………………
q, Tái phạm nguy hiểm”.
Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội; Nhân thân người phạm tội và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Vụ án thuộc trường hợp rất nghiêm trọng. Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các loại chất gây nghiện. Khi phạm tội bị cáo cũng nhận thức được ma túy là chất gây nghiện bị Nhà nước cấm vì ma túy gây tác hại xấu đến đời sống kinh tế xã hội cũng như sức khỏe của con người và cũng làm mầm mống phát sinh các tệ nạn xã hội và các tội phạm khác nhưng bị cáo vẫn bất chấp pháp luật để mua bán, tàng trữ trái phép làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy, hành vi đó phải được xử lý nghiêm minh, cần tuyên phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc, tương xứng với hành vi mà bị cáo đã thực hiện, việc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là cần thiết, có như vậy mới đủ điều kiện để vừa tiếp tục cải tạo, giáo dục riêng bị cáo vừa răn đe phòng ngừa chung.
Ngoài ra, bị cáo Quang Văn K từng có 02 tiền án: Ngày 28/6/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An xử phạt 06 (sáu) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, chấp hành xong án phạt tù ngày 12/4/2017, chưa được xóa án tích; Ngày 29/5/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An xử phạt 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Chấp hành xong án phạt tù ngày 29/10/2020, chưa được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục lao vào con đường phạm tội, điều đó chứng tỏ nhân thân bị cáo xấu, có ý thức coi thường kỷ cương pháp luật nên lần phạm tội này của bị cáo là căn cứ định khung hình phạt “Tái phạm nguy hiểm” được quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.
Tuy nhiên trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo Quang Văn K đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Nên xét thấy cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn, không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: 01 (Một) phong bì bưu điện viền xanh đỏ, được dán kín, trên mép dán có đầy đủ chữ ký của hội đồng tham gia niêm phong và ghi tên của Quang Văn K, bên trong có chứa 1, 25gam (Một phẩy hai mươi lăm) ma túy (Methamphetamine) và vỏ giấy niêm phong ban đầu là vật chứng Nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu và tiêu hủy.
Đối với 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F5, màu vàng nhạt thu giữ của Xeo Văn Q và 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh da trời thu giữ của Quang Văn K. Quá trình điều tra xác định, chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F5, màu vàng bạc nhạt thu giữ của Xeo Văn Q là của ông Xeo Văn K; chiếc điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu xanh da trời thu giữ của Quang Văn K là của bà Bùi Thị T; ông Xeo Văn K và bà Bùi Thị T không biết việc Xeo Văn Q và Quang Văn K sử dụng hai chiếc điện thoại trên để giao dịch mua bán ma túy nên ngày 12/3/2021 Cơ quan CSĐT Công an huyện Kỳ Sơn, tỉnh Nghệ An đã trả lại 02 (hai) chiếc điện thoại trên cho chủ sở hữu là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Các đối tượng liên quan: Trong vụ án này có người đàn ông tên H đã bán ma túy cho Quang Văn K; người đàn ông tên P đã liên lạc để mua ma túy của Xeo Văn Q; một thanh niên đón Xeo Văn Q và Vi Văn T đến ngôi nhà hoang để giao dịch ma túy quá trình điều tra không xác định được danh tính cụ thể nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với Xeo Văn Q và Vi Văn T (người đi cùng Xeo Văn Q đến mua ma túy tại nhà của Quang Văn K), quá trình điều tra xác định tại thời điểm phạm tội Xeo Văn Q và Vi Văn T chưa đủ 16 tuổi nên không phải chịu trách nhiệm hình sự, Cơ quan điều tra đã giao cho gia đình và chính quyền địa phương giáo dục, quản lý.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về điều luật áp dụng và tội danh:
Căn cứ vào điểm e, q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố bị cáo Quang Văn K phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Quang Văn K 08 (Tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (ngày 30/12/2020).
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu và tiêu hủy 01 (Một) phong bì bưu điện viền xanh đỏ, được dán kín, trên mép dán có đầy đủ chữ ký của hội đồng tham gia niêm phong và ghi tên của bị cáo Quang Văn K, bên trong có chứa 1,25 gam (Một phẩy hai mươi lăm) ma túy (Methamphetamine) và vỏ giấy niêm phong ban đầu. (Đặc điểm, tình trạng vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/4/2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Kỳ Sơn và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kỳ Sơn tỉnh Nghệ An).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Quang Văn K phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án đối với phần có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 15/6/2021)./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nghệ An; - VKSND tỉnh Nghệ An; [ơ - VKSND huyện Kỳ Sơn; - Chi cục THADS huyện Kỳ Sơn; - Công an huyện Kỳ Sơn; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án; VP.TA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Vi Thị Khuyên |