vanban.org

Bản án 89/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương Tuyên án 14/12/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Vi Văn L và Lò Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Vi Văn L 16 (mười sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 04/9/2021. Xử phạt: Bị cáo Lò Văn P 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 04/9/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ ma tuý - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Vi Văn L và Lò Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CẨM GIÀNG
TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 89/2021/HSST
Ngày: 14/12/2021.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM GIÀNG, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thúy Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Hồng Hà, ông Đào Văn Hoàn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Vụ - Thư ký Toà án nhân dân huyện Cẩm Giàng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Xoa - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 91/2021/TLST- HS ngày 24 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2021/QĐXXST- HS ngày 01 tháng 12 năm 2021 đối với các bị cáo:

1. VI VĂN L, sinh năm: 1991; Nơi sinh: Q, NA. Nơi ĐKHKTT và cư trú: Bản CM, xã CB, huyện Q, tỉnh NA. Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Con ông: VVH, sinh năm 1963 và bà VTH sinh năm 1966; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là thứ ba; Vợ LTH sinh năm 1999; bị cáo có 01 con sinh năm 2019; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 04/9/2021, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương. (có mặt).

2. LÒ VĂN P, sinh năm 1988. Nơi sinh: M, SL. Nơi cư trú: Bản TB, xã TB, huyện ML, tỉnh SL. Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Thái; Tôn giáo: Không; Con ông: LVP, sinh năm 1960 và bà LTX, sinh năm 1961; Gia đình có 04 anh em, bị cáo là thứ tư; Vợ LTU, sinh năm 1990; Bị cáo có 02 con: Con lớn sinh năm 2012, nhỏ sinh 2018. Nhân thân: Tại bản án số 27/2018/HSST ngày 12/02/2018, TAND quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt 18 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bị cáo chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/2/2019 và các hình phạt khác của bản án; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 04/9/2021, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương. (có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo Lò Văn P: Bà Nguyễn Thị Liên – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hải Dương.

Có mặt

- Người làm chứng:

+ Anh Tăng Văn S, sinh năm 1982; + Chị Quang Thị Th, sinh năm 1976;

Những người làm chứng vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vi Văn L và Lò Văn P là công nhân thuê trọ gần với nhau tại thị trấn Như Quỳnh, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên. Khoảng 15 giờ ngày 02/9/2021, L rủ P đến địa bàn huyện Cẩm Giàng mua ma túy về sử dụng chung. P đồng ý và điều khiển xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA loại ESPERO, BKS 37F1 – 05 (L mượn xe của chị Quang Thị Th) chở L đi mua ma túy. Cả hai đi đến khu vực cầu Ghẽ thuộc thôn P Cầu, xã Cẩm P, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương, L bảo P dừng xe lại. L đi bộ vào khu vực hàng rào phòng chống dịch Covid-19, mua của một người đàn ông không quen biết 01 túi nilon màu vàng, bên trong có chứa 03 túi ma túy Heroin và 01 gói giấy ma túy Heroin với số tiền 900.000đồng. L cầm túi ma túy cất vào giầy đang đi bên phải của mình, ra chỗ P đứng chờ rồi cả 2 về phòng trọ. Đến 16 giờ 10 phút cùng ngày, khi về đến chân cầu vượt Quốc lộ 5A, chiều Hà Nội – Hải Phòng, thuộc địa phận thôn P B, xã Cẩm P, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương thì bị cơ quan điều tra Công an huyện Cẩm Giàng kiểm tra, thu giữ vật chứng ở trong chiếc giầy bên phải của L đang đi, gồm: 01 túi nilon màu vàng, bên trong có 03 túi nilon mầu trắng, viền mầu xanh, kích thước (05 x 3,5)cm, bên trong đều chứa chất bột dạng cục màu trắng và 01 gói giấy màu trắng có kẻ xanh, kích thước (02 x 01)cm, bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng. L và P khai nhận các gói đó là ma túy loại Heroin, cất giấu với mục đích để sử dụng. Cơ quan điều tra quản lý 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, loại ESPERO, màu trắng đen, BKS 37F1 – 05, niêm phong các vật chứng có sự chứng kiến của anh Tăng Văn S.

Kết luận giám định số 488/KLGĐ –PC09 ngày 05/9/2021, của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương, kết luận: Chất bột dạng cục màu trắng trong 03 túi nilon màu trắng và gói giấy màu trắng được niêm phong trong phong bì, gửi đến giám định tổng khối lượng là: 0,591g là ma túy, loại Heroin. Hoàn lại mẫu vật sau giám định là 0,545g Heroin; 01 túi nilon màu vàng, trong có 03 vỏ túi nilon màu trắng, miệng viền màu xanh, 01 mảnh giấy màu trắng có kẻ xanh và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định.

Vật chứng vụ án gồm: Số ma túy hoàn lại sau giám định là 0,545g Heroin; 01 túi nilon; 03 vỏ túi nilon màu trắng, miệng viền màu xanh; 01 mảnh giấy màu trắng có kẻ xanh; 01 phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định.

Chiếc xe mô tô BKS 37F1-05682, L và P sử dụng đi mua ma túy là tài sản hợp pháp của chị Quang Thị Th. Ngày 11/11/2021, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô cho chị Th.

Tại bản cáo trạng số 91/CT-VKSCG ngày 23/11/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng truy tố bị cáo Vi Văn L và Lò Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa bị L khai nhận: Thỉnh thoảng L có sử dụng ma túy là Heroin. Vô tình L biết P cũng sử dụng Heroin nên ngày 02/9/2021, L rủ P đi mua ma túy về để cả hai sử dụng. Khi L vào mua ma túy của một người đàn ông thì P đứng ở cách L khoảng 5m, P có biết việc L mua Heroin và giấu vào trong giầy. Các bị cáo chỉ có mục đích tàng trữ Heroin để sử dụng cho bản thân, không có mục đích nào khác.

P khai nhận: Khi L rủ P đi mua Heroin về để sử dụng chung thì P đồng ý. Khi L mua Heroin, P có biết nhưng không nhìn rõ hai bên mua bán với nhau thế nào. P có nhìn thấy L giấu ma túy vào trong giầy. Sau đó, khi cả hai đang trên đường về thì bị Công an phát hiện.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Vi Văn L và Lò Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Vi Văn L và Lò Văn P mỗi bị cáo từ 16 tháng đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 04/9/2021. Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 0,545 gam ma túy loại Heroine là mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 túi nilon; 03 vỏ túi nilon màu trắng, miệng viền màu xanh; 01 mảnh giấy màu trắng có kẻ xanh; 01 phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định. Về án phí: Áp dụng Điều 136 BLTTHS; Luật phí và lệ phí số 97 ngày 25/11/2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Buộc bị cáo L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo P được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Người bào chữa cho bị cáo P trình bày: bản cáo trạng truy tố đối với hành vi của bị cáo Lò Văn P là có sơ sở pháp luật. Tuy nhiên, bị cáo là người dân tộc Thái, cư trú tại xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên nhận thức pháp luật hạn chế. Bị cáo đã thành khẩn khai báo, thực sự ăn năn hối cải về hành vi của mình. Đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo 14 tháng tù để bị cáo có cơ hội sớm trở về với gia đình và xã hội, sửa chữa lỗi lầm. Đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với P và miễn tiền án phí cho bị cáo P.

Bị cáo P không bổ sung gì thêm, không tranh luận.

Bị cáo L không tranh luận.

Lời nói sau cùng trong phiên tòa:

Bị cáo L: Bị cáo biết hành vi tàng trữ ma túy của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo rất hối hận. Bị cáo lần đầu phạm tội, đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bị cáo P: Bị cáo biết hành vi của bị cáo là sai, bị cáo không bị oan, đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, các quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện Cẩm Giàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của chính bị cáo tại cơ quan điều tra, biên bản vụ việc, biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu, bản kết luận giám định, lời khai người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. HĐXX có đủ sơ sở kết luận: Vào khoảng 16 giờ 10 phút ngày 02/9/2021, tại khu vực chân cầu vượt quốc lộ 5A, chiều đường Hà Nội-Hải Phòng thuộc địa phận thôn P B, xã Cẩm P, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương, Vi Văn L và Lò Văn P đã có hành vi cất giấu trái phép 0,591gam Heroin với mục đích để cùng nhau sử dụng thì bị cơ quan CSĐT Công an huyện Cẩm Giàng phát hiện, thu giữ vật chứng với sự chứng kiến của anh Tăng Văn S.

Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của nhà nước về chất ma túy. Các bị cáo biết rõ hành vi cất giấu trái phép ma túy để sử dụng cho bản thân là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý.

Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương đã truy tố các bị cáo là có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét vai trò của từng bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, trong đó L là người khởi xướng, rủ rê P đi mua ma túy đồng thời là người trực tiếp mua ma túy cất giấu vào giầy của mình nên L giữ vai trò thứ nhất. P là người giúp sức cho L nên giữ vai trò thứ hai.

Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo: Các bị cáo không có tiền án, tiền sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ thái độ thực sự ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự 2015.

Bị cáo P là người có nhân thân xấu, đã bị Tòa án nhân dân quận Lê Chân Hải Phòng xử phạt 18 tháng tù về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân mà lại tiếp tục có hành vi phạm tội.

Căn cứ vào tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và vai trò của từng bị cáo trong vụ án, HĐXX thấy cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo làm nghề tự do, thu nhập không ổn định, kinh tế khó khăn, không có tài sản riêng. Bị cáo P có nơi cư trú tại xã Tạ Bú là một xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn theo Quyết định của Thủ tướng Chính Phủ. Do đó HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về vật chứng vụ án: Đối với 0,545g Heroin; 01 túi nilon; 03 vỏ túi nilon màu trắng, miệng viền màu xanh; 01 mảnh giấy màu trắng có kẻ xanh; 01 phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định là vật cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng cần phải tịch thu, tiêu hủy theo quy định của pháp luật.

Chiếc xe mô tô BKS 37F1 – 05, L và P sử dụng đi mua ma túy là tài sản hợp pháp của chị Quang Thị Th, chị Th không biết các bị cáo dùng vào việc phạm tội nên ngày 11/11/2021, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe mô tô cho chị Th là phù hợp.

Các vấn đề khác: Đối với người đàn ông bán ma túy cho L tại thôn P Cầu, xã Cẩm P, huyện Cẩm Giàng quá trình điều tra không xác định được nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với chị Quang Thị Th là người cho P mượn xe mô tô nhưng không biết P sử dụng đi mua ma túy nên không có căn cứ để xử lý.

Về án phí: Bị cáo L và bị cáo P bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm. Tuy nhiên, bị cáo P là người dân tộc Thái sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên HĐXX miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo P.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Vi Văn L và Lò Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

3. Xử phạt: Bị cáo Vi Văn L 16 (mười sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 04/9/2021.

Xử phạt: Bị cáo Lò Văn P 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam 04/9/2021.

4. Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 0,545 gam ma túy loại Heroine là mẫu vật hoàn lại sau giám định; 01 túi nilon; 03 vỏ túi nilon màu trắng, miệng viền màu xanh; 01 mảnh giấy màu trắng có kẻ xanh; 01 phong bì niêm phong mẫu vật gửi đến giám định.

(Đặc điểm của vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan công an huyện Cẩm Giàng và Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Giàng).

5. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Vi Văn L phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lò Văn P.

6. Quyền kháng cáo: Áp dụng điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 14/12/2021.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ