- Tranh chấp gì? án hình sự — "GIAO CAU TRE EM - phạm tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (điều 145 Luật sửa…"
- Tòa quyết gì? 1 Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯ Bản án số: 89/2021/HS-ST Ngày: 19/3/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Cẩm Hiền
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Chí Quý
2. Bà Phan Thị Hoa
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Nhật Phương Giang – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Ngô Thế Tùng - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 202/2020/TLST- HS ngày 21 tháng 12 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 99/2021/QĐXXST-HS ngày 02/3/2021, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn H, sinh ngày 15/7/2000 tại tỉnh B; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Hộ khẩu thường trú: Tân Hóa Bắc, xã H, huyện P, tỉnh Bình Định; Trình độ văn hóa: 09/12; Nghề nghiệp: không; Con ông Nguyễn P và bà Nguyễn Thị H; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt, giam, giữ từ ngày 12/8/2020, tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
Người bị hại:
Chị Trần Thị Kim L, sinh ngày 27/9/2004
Địa chỉ: thôn Hiệp Long, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định.
Người giám hộ cho người bị hại:
Bà Võ Thị Hồng N, sinh năm: 1980 (là mẹ ruột).
Địa chỉ: thôn Hiệp Long, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại:
Bà Nguyễn Tường V, sinh năm: 1980
Là Luật sư thuộc Công ty luật TNHH một thành viên NS.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
1/ Ông Đặng Hoàng P, sinh năm: 1988
Địa chỉ: hẻm 35 đường 904, khu phố 6, phường H, tỉnh Bình Định.
2/ Ông Trần văn V, sinh năm: 1991
Địa chỉ: Man Thiện, phường A, Quận 9, Thành phồ Hồ Chí Minh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
[1] Nguyễn Văn H, sinh ngày 15/7/2000 và Trần Thị Kim L, sinh ngày 27/9/2004 cùng cư trú tại huyện P, tỉnh Bình Định có quan hệ yêu nhau và đã quan hệ tình dục nhiều lần vào khoảng tháng 3/2019 (không nhớ thời gian nào và bao nhiều lần). Sau đó, H vào Thành phố Hồ Chí Minh xin việc làm, L cũng vào Thành phố Hồ Chí Minh và ở chung nhà với cậu ruột là anh Đặng Hoàng P tại hẻm số 35, Đường 904, khu phố 6, phường P, Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 20/6/2019, H, L liên lạc với nhau và cùng đến Quán ốc của anh Trần Văn V tại đường Man Thiện, Khu phố 5, phường A, Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh để xin làm nhân viên phục vụ. Quá trình làm việc tại quán, H, L đều ở lại và ngủ tại phòng ngủ dành cho nhân viên của quán và đã quan hệ tình dục với nhau khoảng 04 đến 05 lần. Các lần quan hệ tình dục cả hai đều tự nguyện và H đều xuất tinh ra ngoài, không sử dụng biện pháp tránh thai nào, lần gần nhất là vào khoảng 08 giờ ngày 30/6/2019, H, L quan hệ tình dục với nhau tại phòng ngủ, H xuất tinh ra ngoài và lấy mền để lau tinh trùng. Do biết được việc L sống chung và đã quan hệ tình dục với H nên anh Đặng Hoàng P đến Công an phường B, Quận 9 trình báo vụ việc.
Ngày 20 tháng 8 năm 2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và ra lệnh bắt bị can để tạm giam đối với: Nguyễn Văn H về tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” quy định tại khoản 2 Điều 145 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Sau đó H bỏ trốn nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh ra quyết định tạm đình chỉ điều tra vụ án hình sự, tạm đình chỉ điều tra bị can và ra quyết định truy nã đối với Nguyễn Văn H. Ngày 12 tháng 8 năm 2020, Nguyễn Văn H bị bắt theo Quyết định truy nã. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 9, Nguyễn Văn H đã khai nhận toàn bộ nội dung phạm tội như đã nêu trên.
Căn cứ Bản Kết luận giám định pháp y về tình dục số 120/TD.19 ngày 11/7/2019 của Trung tâm Pháp y Sở y tế Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: Màng Trinh dãn rộng, không rách. Không thấy tinh trùng trong dịch phết âm đạo và tại vùng hậu môn. Chỉ có tế bào người nam trong âm đạo, đủ cơ sở đối chiếu với mẫu AND của đối tượng nam.
Căn cứ Bản Kết luận giám định pháp y về ADN số 1.197A-2019/ADN ngày 08/8/2019 của Trung tâm Pháp y Sở y tế Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: AND trên nhiễm sắc thể Y của Nguyễn Văn H có hiện diện trong phết dịch âm đạo của Trần Thị Kim L.
Vật chứng vụ án thu giữ: 01 cái mền kích thước 1,6x2m đã qua sử dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Chị Võ Thị Hồng N là mẹ ruột Trần Thị Kim L yêu cầu Nguyễn Văn H bồi thường số tiền 80.000.000 đồng.
[2] Bản Cáo trạng số 09/CT-VKS ngày 13712/2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội: “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo quy định tại khoản 2 Điều 145 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” theo quy định tại khoản 2 Điều 145 Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, đề nghị áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 để xử phạt bị cáo mức án từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Buộc bị cáo bồi thường thiệt hại cho người bị hại. đối với vật chứng đề nghị xử lý theo quy định.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại có bà Nguyễn Tường V - Là Luật sư thuộc Công ty luật TNHH một thành viên NS trình bày: Thấy tình tiết của vụ án đã được làm sáng tỏ, bị cáo và người bị hại có mối quan hệ tình cảm là có thật. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo có cơ hội trở lại với cuộc sống bình thường.
- Bà Võ Thị Hồng N là mẹ ruột của em Trần Thị Kim L yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn H bồi thường thiệt hại cho em L số tiền 80.000.000 đồng. Đồng thời bà N đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo H.
- Bị cáo Nguyễn Văn H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo đồng ý bồi thười cho gia đình người bị hại số tiền là 80.000.000 đồng. Bị cáo không tranh luận, không bào chữa gì, bị cáo nói lời sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Đức, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được. Có căn cứ xác định bị cáo Nguyễn Văn H là người đủ 18 tuổi, có hành vi nhiều lần giao cấu với em Trần Thị Kim L. Khi thực hiện hành vi (vào ngày 30/6/2019), em Trần Thị Kim L chỉ mới 14 tuổi 10 tháng 27 ngày. Như vậy có đủ cơ sở pháp lý kết luận bị cáo Nguyễn Văn H phạm “Tội giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”, tội phạm và hình phạt được qui định tại Điều 145 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã có hành vi xâm phạm đến sự phát triển bình thường về thể chất và sinh lý của trẻ em, tác hại đến sự phát triển đạo đức, nhân cách, danh dự, nhân phẩm của trẻ em ở hiện tại và tương lai. Tính nguy hiểm của hành vi mà bị cáo thực hiện còn thể hiện ở việc bị cáo thực hiện hành vi nhiều lần (phạm tội 2 lần trở lên), đây là tình tiết định khung tăng nặng quy định tại điểm a khoản 2 của Điều luật đã viện dẫn. Vì vậy cần phải xử lý bị cáo nghiêm khắc mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hành vi phạm tội của bị cáo còn có sự chủ động người bị hại, vụ việc xảy ra xuất phát từ tình cảm yêu thương giữa bị cáo và người bị hại nên xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: bị cáo đồng ý bồi thường cho người bị hại số tiền 80.000.000 đồng nên ghi nhận.
Về xử lý vật chứng: 01 cái mền kích thước 1,6m x 2m đã qua sử dụng. không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ Điều 38; Điều 48; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm a khoản 2 Điều 145 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã sửa đổi, bổ sung năm 2017):
1.1 Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi”.
1.2 Xử phạt: Nguyễn Văn H 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 12/8/2020.
1.3 Buộc Nguyễn Văn Hùng bồi thường cho em Trần Thị Kim L số tiền 80.000.000 đồng (Tám mươi triệu đồng).
2. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015: Tịch thu tiêu hủy 01 cái mền kích thước 1,6m x 2m đã qua sử dụng theo Lệnh nhập kho vật chứng số 83/19 ngày 26/9/2019 của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh (Công an Quận 9 cũ).
3. Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa XIV: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với những trường hợp vắng mặt tại phiên tòa, thời hạn kháng cáo là 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận : - Tòa án NDTP.HCM; - Viện KSND Tp. Thủ Đức; - Công an Tp. Thủ Đức; - Chi cục THADS Tp. Thủ Đức; - Bị cáo; - Bị hại; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan - Lưu. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Thái Thị Cẩm Hiền |