- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bà Đỗ Thị L. Cho bà Đỗ Thị L được ly hôn với ông Ịp Sắn P."
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị L. Cho bà Đỗ Thị L được ly hôn với ông Ịp Sắn P.
- Căn cứ chính? Điều 119 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự phiên tòa
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 89/2021/HNGĐ-ST Ngày: 19 - 11 - 2021. V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM - TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Như Quỳnh.
Các hội thẩm nhân dân: Bà Đào Thị Giang và ông Vũ Xuân Tuất.
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Hà - Thư ký Toà án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên toà: Ông Phạm Hữu Tình - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 353/2021/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 5 năm 2021, về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2021/QĐXXST-HNGĐ, ngày 27 tháng 7 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số 114/2021/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đỗ Thị L, sinh năm 1983.
HKTT: Tổ 10, Khu 1, ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
- Bị đơn: Ông Ịp Sắn P, sinh năm 1980.
HKTT: Tổ 10, Khu 1, ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
(Bà L xin vắng mặt, ông P vắng mặt không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại phiên tòa hôm nay bà Đỗ Thị L có đơn xin xét xử vắng mặt. Tuy nhiên trong đơn khởi kiện, trong quá trình chuẩn bị xét xử bà L trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà L và ông Ịp Sắn P tự nguyện yêu thương chung sống vợ chồng với nhau, được UBND xã V, huyện V, tỉnh Đồng Nai cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn vào ngày 06/5/2003, số 48, quyển số 01/2003.
Trong cuộc sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng thường xuyên cãi nhau, cả hai thiếu sự chia sẻ nên tình cảm dần trở nên phai nhạt. Cả hai đã cố gắng hòa giải để mong hàn gắn hạnh phúc gia đình nhưng không khắc phục được, mâu thuẫn càng ngày càng trầm trọng hơn. Ông P thiếu sự quan tâm, chăm sóc đối với gia đình mà để mọi trách nhiệm từ kinh tế đến chăm lo con cái cho mình bà L đảm đương.
Hiện vợ chồng không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau, tình cảm dành cho nhau không còn, đã sống ly thân nhau. Nay bà L yêu cầu được ly hôn với ông Ịp Sắn P.
- Về con chung: Vợ chồng chung sống có 02 con chung là Ịp Cầy V, sinh ngày 09/4/2004; Ịp Quí P, sinh ngày 17/10/2013. Bà L yêu cầu được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục hai con chung và không yêu cầu ông P phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Bà L khai tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Nợ chung: Bà L khai không có.
* Bị đơn ông Ịp Sắn P đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, ông P không đến Tòa án để làm việc, cũng không có văn bản trình bày ý kiến, không giao nộp tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án. Tại phiên tòa, ông P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt nên không có lời khai.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền, nghĩa vụ tố tụng.
Về đƣờng lối giải quyết vụ án:
- Về quan hệ hôn nhân: Đề nghị Tòa án chấp nhận cho bà Đỗ Thị L được ly hôn với ông Ịp Sắn P.
- Về con chung: Đề nghị Tòa án giao hai con chung là Ịp Cầy V, sinh ngày 09/4/2004; Ịp Quí P, sinh ngày 17/10/2013 cho bà Đỗ Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Tạm thời ông P không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung: Bà L khai tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét giải quyết.
- Về nợ chung: Bà L khai không có nên không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Buộc bà L phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng dân sự: Bà Đỗ Thị L có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai giải quyết ly hôn của bà với ông Ịp Sắn P vì vậy quan hệ pháp luật được xác định là “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.
Trong suốt quá trình chuẩn bị xét xử, tại phiên tòa xét xử vụ án Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng cho bị đơn ông Ịp Sắn P nhưng ông P đều vắng mặt. Tại phiên tòa lần đầu và tại phiên tòa ngày hôm nay ông P vẫn không đến tham gia. Căn cứ vào điểm b, khoản 2 Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự phiên tòa vẫn được tiến hành.
Bà Đỗ Thị L có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự phiên tòa vẫn được tiến hành.
Về nội dung vụ án:
2.1. Về quan hệ hôn nhân giữa bà Đỗ Thị L và ông Ịp Sắn P là hợp pháp, vì lấy nhau tự nguyện, được cấp có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận kết hôn theo đúng quy định tại Điều 11 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, không vi phạm các điều kiện cấm kết hôn quy định tại Điều 9 - Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 nên được pháp luật bảo vệ.
Xét yêu cầu ly hôn của bà Đỗ Thị L thì thấy: Mâu thuẫn giữa vợ chồng của bà L, ông P đã xảy ra trong thời gian dài. Mâu thuẫn do không hợp nhau, hay cãi vã về nhiều vấn đề kinh tế, tình cảm nên tình cảm vợ chồng ngày càng phai nhạt. Bà L, ông P cũng tìm nhiều biện pháp tháo gỡ nhưng cũng không đem lại kết quả gì. Mâu thuẫn vợ chồng không thể hàn gắn được, vợ chồng chung sống không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, hai người đã sống ly thân. Tình cảm của bà L dành cho ông P không còn nên bà xin được ly hôn với ông P.
Tòa án đã tống đạt thông báo thụ lý vụ án cho ông P nhưng ông P không có bất cứ văn bản nào trả lời cho Tòa án về yêu cầu ly hôn của bà L. Tòa án cũng đã thông báo hòa giải để cho ông, bà có cơ hội gặp gỡ hòa giải đoàn tụ với nhau nhưng ông P vắng mặt. Tại phiên tòa lần đầu và ngày hôm nay ông P cũng vắng mặt không có lý do. Thể hiện bản thân ông P cũng không có thiện chí hàn gắn mâu thuẫn gia đình với bà L. Tại Biên bản xác minh ngày 10/5/2021 tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện T cũng thể hiện vợ chồng bà L, ông P chung sống không hạnh phúc, ông P thiếu sự quan tâm, chăm sóc tới gia đình. Qua những phân tích trên thể hiện cuộc sống hôn nhân của bà L, ông P không có sự yêu thương, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình đã vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng. Xét thấy mâu thuẫn trong cuộc sống hôn nhân của bà L, ông P đã trầm trọng, không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cần chấp nhận yêu cầu của bà L về việc yêu cầu ly hôn với ông P.
2.2. Về con chung: Ông P đã được Tòa án thông báo về yêu cầu khởi kiện, nuôi con chung của bà L, nhưng trong suốt quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa ngày hôm nay ông P không có bất cứ ý kiến bằng văn bản gửi cho Tòa án, cũng không đến Tòa án làm việc, cháu Ịp Cầy V, sinh ngày 09/4/2004, Ịp Quí P, sinh ngày 17/10/2013 hiện đang được bà L trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng và các cháu cũng có nguyện vọng được chung sống với bà L. Bà L có công việc, thu nhập và nơi ở ổn định, để tránh ảnh hưởng đến cuộc sống của các cháu nên căn cứ vào Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu nuôi con chung của bà L.
2.2.2. Bà L không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
2.3. Về tài sản chung: Bà L khai tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
2.4. Về nợ chung: Bà L khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí sơ thẩm: Buộc bà L phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Xét đề nghị nêu trên của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom thì thấy phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: Vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228; Điều 238; Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 51, Điều 53, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84; Điều 119 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đỗ Thị L. Cho bà Đỗ Thị L được ly hôn với ông Ịp Sắn P.
2. Về con chung: Giao hai con chung là Ịp Cầy V, sinh ngày 09/4/2004, Ịp Quí P, sinh ngày 17/10/2013 cho bà Đỗ Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng. Tạm thời ông Ịp Sắn P không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Không ai được cản trở quyền đi lại, thăm nom và chăm sóc con chung của ông P.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Vì lợi ích của con, trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại Điều 119 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc cấp dưỡng nuôi con.
3. Về tài sản chung: Bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
4. Về nợ chung: Bà L khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Đỗ Thị L phải nộp 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về việc ly hôn số tiền này được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà L đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), theo biên lai thu số 0007560 ngày 06/5/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom. Bà L đã nộp đủ tiền án phí sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Bà Đỗ Thị L và ông Ịp Sắn P có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom; - Chi cục THADS huyện Trảng Bom; - Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai; - UBND xã Vĩnh Tân, huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai; - Lưu VP, hồ sơ; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Nhƣ Quỳnh |