vanban.org

Bản án 89/2021/HC-PT — Hành chính

TAND cấp cao tại Hà Nội Tuyên án 30/03/2021 Hành chính Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 30/03/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của ông Khổng Văn H; giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 01/2020/HC-ST ngày 08 tháng 5 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

Án phí: Ông Khổng Văn H không phải chịu án phí hành chính phúc thẩm. Hoàn trả lại cho ông H số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí hành chính phúc thẩm đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009283 ngày 26/5/2020 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình. Các quyết định khác của bản … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hành chính — "Khiếu kiện các quyết định hành chính về việc giải quyết khiếu nại"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của ông Khổng Văn H; giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 01/2020/HC-ST ngày 08 tháng 5 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.
  • Căn cứ chính? Luật Người cao tuổi; Điều 241 Luật Tố tụng hành chính; Điều 349 Luật Tố tụng hành chính
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 89/2021/HC-PT
Ngày: 30/3/2021
V/v khiếu kiện các quyết định hành
chính về việc giải quyết khiếu nại

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Đông;

Các Thẩm phán:

Ông Phạm Văn Tuyển;

Ông Thái Duy Nhiệm.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hải - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Vĩnh, Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 30 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 398/2020/TLPT-HC ngày 04 tháng 8 năm 2020 về việc “Khiếu kiện các quyết định hành chính về việc giải quyết khiếu nại”. Do Bản án hành chính sơ thẩm số 01/2020/HC-ST ngày 08 tháng 5 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2453/2021/QĐ-PT ngày 16 tháng 3 năm 2021 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, giữa các đương sự:

1. Người khởi kiện: Ông Khổng Văn H, sinh năm 1959; địa chỉ: Thôn GL, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình; có mặt tại phiên tòa.

- Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện: Ông Bùi Văn P; địa chỉ: Số nhà 34, ngõ 54, PĐL, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình; có mặt tại phiên tòa.

2. Người bị kiện:

2.1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình; địa chỉ trụ sở: Số 431, phường TĐ, thành phố T, tỉnh Thái Bình; vắng mặt, có văn bản xin xét xử vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp:

- Ông Nguyễn Văn N - Phó Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T; có mặt tại phiên tòa;

- Ông Phạm Công C - Phó Trưởng phòng Quản lý đất đai, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T; có mặt tại phiên tòa;

- Bà Nguyễn Thu H - Chuyên viên phòng Quản lý đất đai, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T; vắng mặt, có văn bản xin xét xử vắng mặt;

2.2. Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Thái Bình;

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn Đ – Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T; vắng mặt, có văn bản xin xét xử vắng mặt;

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Phạm Đình T – Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố T; vắng mặt, có văn bản xin xét xử vắng mặt;

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

3.1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Thái Bình; địa chỉ trụ sở: Số 71, đường Trần Phú, phường TĐ, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn Đ – Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố T; vắng mặt, có văn bản xin xét xử vắng mặt;

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Phạm Đình T – Trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố T; vắng mặt, có văn bản xin xét xử vắng mặt;

3.2. Bà Khổng Thị T, sinh năm 1953; địa chỉ: Xóm 7, xã TG, huyện TT, tỉnh Thái Bình; vắng mặt tại phiên tòa;

3.3. Bà Khổng Thị H, sinh năm 1955; vắng mặt tại phiên tòa;

3.4. Bà Khổng Thị L, sinh năm 1968; vắng mặt tại phiên tòa;

Cùng địa chỉ tại: Bản N, xã PL, huyện M, tỉnh Yên Bái;

3.5. Bà Khổng Thị N, sinh năm 1962; vắng mặt tại phiên tòa;

3.6. Ông Khổng Văn Q, sinh năm 1973; vắng mặt tại phiên tòa;

3.7. Bà Khổng Thị H, sinh năm 1970; vắng mặt tại phiên tòa;

Cùng địa chỉ tại: Thôn GL, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình;

3.8. Anh Khổng Văn H, sinh năm 1995 (con trai ông Khổng Văn X); địa chỉ: Thôn Thỏ Bắc, xã Đ, thành phố T, tỉnh Thái Bình; vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện,đơn bổ sung đơn khởi kiện, bản tự khai, lời khai c ng các tài liệu ch ng c đ u t tr nh, người khởi kiện là ng Khổng Văn H trình bày và có yêu cầu khởi kiện như sau:

Bố mẹ đẻ ông là cụ Khổng Văn B và cụ Phạm Thị V. Cụ B, cụ V sinh đư c 09 người con là Khổng Thị T, Khổng Thị H, Khổng Văn H, Khổng Thị H1, Khổng Thị N, Khổng Thị L, Khổng Văn Q, Khổng Thị N ( bà N đã hy sinh năm 1972) và ông Khổng Văn X - ông X đã chết năm 2010. Hai cụ không có con nuôi, con riêng.

Theo sổ mục kê và bản đồ 299 tại thửa số 40, diện tích 275m2 đất ao, thửa số 41 diện tích 192m2 đất ở mang tên cụ Khổng Văn B. Năm 1981, ông lấy v đư c bố, mẹ cho 64m2 đất làm nhà rạ để ở. Năm 1988, ông phá nhà rạ xây nhà ngói. Năm 2000, ông phá nhà ngói để xây nhà mái b ng. Khi xây nhà mái b ng, ông xây tường dịch vào 4,7 m (kể t mép Quốc lộ 10 để làm sân và v n giữ lại tường nhà ngói xây t năm 1988. Hiện nay ông và bà N, ông X, ông Q là chủ sử dụng các phần đất đư c tách ra t hai thửa đất 40, 41, cụ thể: diện tích đất bố mẹ ông cho t năm 1981 thể hiện ông sử dụng thửa số 09 diện tích 81,2m2; thửa số 10 diện tích 81,5m2 chủ sử dụng là Khổng Tiến C con trai ông; thửa số 11 diện tích 76,4m2 và thửa số 14 diện tích 80,1m2 ông Q sử dụng; thửa số 15 diện tích 87,1m2 bà N sử dụng; thửa số 25 diện tích 60,8m2 cháu H con ông X sử dụng.

Khi thực hiện dự án đường vành đai phía Nam thành phố, ông bị thu hồi 70,6m2 đất (gồm 38,6m2 đất gia đình ông đang sử dụng và 32m2 đất liền kề trước cửa nhà ông . Tuy nhiên UBND thành phố T đã có những sai phạm và quyết định trái pháp luật khi bồi thường không đúng tên chủ sử dụng và bồi thường thiếu diện tích đất thu hồi cụ thể:

Ngày 22/7/2016, UBND thành phố T, tỉnh Thái Bình ra Thông báo thu hồi đất số 1083/TB-UBND ghi người bị thu hồi là Khổng Văn H. Tuy nhiên, ngày 10/8/2017, UBNDTP Thái Bình ra Quyết định số 4864/QĐ-UBND lại ghi thu hồi đất của ông Khổng Văn B diện tích 99m2 trong khi cụ B chết năm 1981 trước khi xã Đ thực hiện 299 (năm 1984 ; cách thời điểm thành phố thu hồi đất là 37 năm . Ông khẳng định phần đất ông đang sử dụng có nguồn gốc của bố mẹ ông đã cho ông t năm 1981 mặc dù ông chưa đư c cấp sổ đỏ nhưng ông là chủ sử dụng h p pháp diện tích đất đã bị thu hồi là 38,6m2 trong tổng số 99m2 bị thu hồi và tại quyết định số 4866 ngày 10/8/2017 của UBND thành phố T phê duyệt phương án bồi thường đã thu hồi nhưng không đền bù cho ông 32m2 vì cho r ng diện tích đất này là mương nước thủy l i.

Ngày 06/3/2018, ông H khiếu nại Quyết định 4864 của UBND thành phố T và Chủ tịch UBND thành phố T ban hành Quyết định số 3256/QĐ-UBND v/v giải quyết khiếu nại (lần đầu không chấp nhận yêu cầu của ông.

Ngày 28/8/2018, ông có đơn khiếu nại (lần hai đến Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình yêu cầu giải quyết.

Ngày 13/9/2019, Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình ra Quyết định số 2567/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại (lần hai đã công nhận Quyết định số 3256/QĐ-UBND của UBNDTP Thái Bình và bác bỏ 02 nội dung khiếu nại của ông, là quyết định hành chính trái pháp luật vì:

- Việc Chủ tịch UBND tỉnh Thái B nh kh ng ch p nhận yêu cầu quyết định thu h i đ t phải ghi đ ng tên người sử dụng đ t là ng (Khổng Văn H) là trái pháp luật.

Căn cứ để ông yêu cầu quyết định thu hồi đất phải ghi đúng tên ông (Khổng Văn H):

Căn cứ 1: Chứng cứ rất quan trọng chứng minh ông đã đư c bố mẹ cho đất, tách thổ và t năm 1981 đã có hộ khẩu riêng của hai v chồng, bố mẹ đã làm nhà rạ cho để ở dù chưa công bố cho đất. Đến năm 1984, tại bản kê khai 299 của cụ Phạm Thị V (mẹ ông kê khai có 02 hộ 10 khẩu, khi đó chị ông là bà T đã đi lấy chồng, theo đó mẹ ông đã tách hộ, tách đất cho ông (Hội , trong quá trình gia đình ông đã sử dụng 64m2 đất thổ cư, có biên lai thu thuế, sổ mục thuế phi nông nghiệp, nhưng Quyết định số 2567 ngày 13/9/2019 của Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình đã cố ý bỏ qua. Diện tích đất này của ông chưa đư c cấp sổ đỏ.

Căn cứ 2: Các bản đồ địa chính lập t năm 2001, 2012, 2016 đều ghi chủ sử dụng đất là Khổng Văn H. UBNDTP Thái Bình dựa vào các bản đồ địa chính này để thu hồi đất của ông (Khổng Văn H) nên Thông báo thu hồi đất số 1083/TB-UBND ngày 22/7/2016 của UBNDTP Thái Bình đã ghi người bị thu hồi đất là Khổng Văn H nhưng khi ra quyết định thu hồi thì UBND thành phố T lại ghi thu của cụ Khổng Văn B là trái pháp luật.

Căn cứ 3: Ông đã nộp thuế đất ở 64m2 t năm 1981 đến nay. Đến thời điểm bị thu hồi đất là 37 năm, anh em ruột thịt không có tranh chấp, khiếu kiện.

Quyết định số 2567 của Chủ tịch UBND tỉnh Thái B nh kh ng ch p nhận nội dung ng yêu cầu đền b tiếp 32 2 là kh ng có căn c pháp luật v :

- Cùng thời điểm bị thu hồi đất, cùng do UBND thành phố T đền bù thì các ông Nguyễn Chí Dũng, ông Hải (chủ nhà hàng 88) và một số hộ khác liền kề với ông đư c UBND thành phố T xác định t tim đường 10 vào là 5 mét để đền bù còn đất của ông là đất cha ông để lại có t hàng trăm năm nay khi thu hồi lại bị UBND thành phố T xác định t tim đường 10 vào là 11,7m để không đền bù là trái pháp luật. Đường 10 ngày xưa mặt đường chỉ 4m mà giờ là 21,7m.

- UBND tỉnh Thái Bình viện d n diện tích 32m2 là mương thủy l i là bao che cho việc đền bù sai trái của UBND thành phố T vì theo ông mương thủy l i không thể dài 6,7 m mương chỉ chảy qua cửa nhà ông mà không qua những nhà ông ghi tên trên? Và theo bản đồ dinh dưỡng đất xã Đ, ông thấy trước cửa nhà ông không có màu xanh mà chỉ có màu đỏ thể hiện là đất thổ cư, đây là chứng cứ xác định không có mương thủy l i đi qua đất nhà ông

- Ngày 03/7/2007, UBND xã Đ đã lập “Biên bản ác nhận ông H là chủ sử dụng 64 2 đ t thổ cư và ác nhận đ t nhà ng n sát đường 1 chưa được đền b ”. Đây là căn cứ để nhà ông không bị thanh tra giao thông thu dỡ vỉa hè trong khi các hộ khác đều phải tháo dỡ.

Nay ng khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết:

- Yêu cầu hủy Quyết định số 2567/QĐ - UBND ngày 13/9/2019 của Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình.

- Yêu cầu UBND thành phố Thái Bình ra Quyết định thu hồi đất phải ghi đúng tên người sử dụng bị thu hồi là Khổng Văn H.

- Yêu cầu UBND thành phố Thái Bình phải đền bù tiếp cho ông 32m2 đất giáp đường 10 vì đây là đất cha ông của ông để lại chưa đư c đền bù.

Ông Phạ C ng C là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị kiện - Chủ tịch UBND tỉnh Thái B nh có kiến tr nh bày: Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình thống nhất lời trình bày của ông H về quá trình giải quyết đơn khiếu nại. Đối với yêu cầu khởi kiện Quyết định số 2567 của Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình thì không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của người khởi kiện, giữ nguyên nội dung Quyết định số 2567/QĐ-UBND ngày 13/9/2019 của Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình về việc giải quyết khiếu nại (lần hai đối với ông Khổng Văn H. Đề nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện về hủy Quyết định 2567 của Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình, bởi vì:

1.Về hình thức Quyết định thu hồi số 4864 của UBND thành phố T, Quyết định số 4688 phê duyệt phương án bồi thường, Quyết định số 3256 giải quyết khiếu nại lần đầu của Chủ tịch UBND thành phố T và Quyết định số 2567 của Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình ban hành đúng trình tự, thẩm quyền giải quyết khiếu nại của Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

2. Về nội dung Quyết định số 2567 của Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình ban hành thể hiện:

+ Về thửa đất gia đình ông H đang sử dụng theo bản đồ 299 và sổ mục kê lưu trữ tại UBND xã Đ thể hiện n m trong thửa đất số 40 diện tích 275m2 đất ao và thửa 41 diện tích 192m2 đất ở tại tờ bản đồ số 1 thuộc thôn GL, xã Đ mang tên cụ Khổng Văn B.

Theo Bản đồ mặt b ng tuyến đường Quốc lộ 10 (đoạn qua xã Đ đo đạc năm 2001-2002 phục vụ giải phóng mặt b ng Dự án Nâng cấp Quốc lộ 10, đư c Giám đốc Sở Địa chính (nay là Sở Tài nguyên và Môi trường xác nhận: Thửa đất số 40, 41 nêu trên đư c thể hiện thành 02 thửa, gồm: thửa đất số 33, tờ số 2, diện tích 424,2m2, chủ sử dụng: ông Q, thửa đất số 34, tờ số 2, diện tích 165,3m2, chủ sử dụng: ông H; phần diện tích trước thửa đất gia đình ông H, ông Q đư c thể hiện là hành lang giao thông Quốc lộ 10, các công trình nhà ở của ông H, ông Q đư c thể hiện trong ranh giới khuôn viên thửa đất của gia đình nên khi thực hiện giải phóng mặt b ng Dự án nâng cấp Quốc lộ 10 (năm 2001 - 2002), UBND thành phố T không thu hồi đất của gia đình ông H, ông Q.

- Bản vẽ trích lục bản đồ địa chính số 03/2016/TLBĐĐC năm 2016 phục vụ giải phóng mặt b ng Dự án Đường vành đai phía Nam thành phố: Thửa đất số 40, 41 cũ đư c tách ra thành 6 thửa, gồm: thửa đất số 09, diện tích 81,1m2, chủ sử dụng: ông H; thửa đất số 10, điện tích 81,5m2, chủ sử dụng: ông Cường (con ông H); thửa đất số 11, diện tích 76,4m2, chủ sử dụng: ông Q: thửa đất số 14 diện tích 80,1m2, chủ sử dụng: ông Q; thửa đất số 15, diện tích 87,1m2, chủ sử dụng: bà N; thửa đất số 25, diện tích 286,9 m2 (gồm: một phần tách t thửa 40, 41, một phần t đất nông nghiệp của gia đình đư c giao theo Quyết định số 652/QĐ-UBND của UBND tỉnh, một phần là đất 5% công ích do UBND xã Đ quản lý , chủ sử dụng: ông H (Con ông Khổng Văn X, cháu nội ông B , để thực hiện dự án trên Nhà nước thu hồi diện tích 99m2 (trong đó diện tích 38,6m2 ông H đang sử dụng là căn cứ vào bản đồ 299 và sổ mục kê để xác định có nguồn gốc của cụ B.

Khi lập, phê duyệt phương án bồi thường hỗ tr giải phóng mặt b ng UBND thành phố T ban hành Quyết định 4866 ngày 10/7/2018 bồi thường giá trị thu hồi cho cụ B. Sau đó UBND thành phố T xác định cụ B và cụ V đều chết không để lại di chúc đã ban hành Quyết định số 7237/QĐ-UBND Ngày 28/12/2017, về việc sửa đổi, bổ sung Quyết định số 4864/QĐ-UBND ngày 10/8/2017 của UBND thành phố T sửa đổi, bổ sung nội dung “Thu h i 99, 2 đ t của hộ ng Khổng Văn B, thuộc thửa đ t số 9, 1 , 11, 14, 15, 25, tờ bản đ số 22, tại Đ, thành phố T” thành “Thu h i 99m2 đ t của ng Khổng Văn B, bà Phạ Thị V (ông B, bà V đ chết) hiện ông H đang sử dụng diện tích 19,6 2 tại thửa đ t số 9; ng Cường đang sử dụng diện tích 19 2 tại thửa đ t số 1 ; ng Q đang sử dụng diện tích 36 2 tại thửa đ t số 11 và 14; bà Nđang sử dụng diện tích 15,1m2 tại thửa đ t số 15; ông H đang sử dụng diện tích 9,3m2 tại thửa đ t số 25, đều thuộc tờ bản đ địa chính số 22 tại Đ, thành phố Thái B nh”.

- Ngày 12/11/2018, UBND thành phố Thái Bình có Quyết định số 4967/QĐ- UBND điều chỉnh đối tư ng đư c bồi thường, hỗ tr giải phóng mặt b ng tại Phương án bồi thường, hỗ tr giải phóng mặt b ng Dự án đường vành đai phía Nam thành phố (kèm theo Quyết định số 4866/QĐ-UBND ngày 10/8/2017 của UBND thành phố ; trong đó điều chỉnh đối tượng được b i thường, h trợ giải phóng t b ng t hộ ng Khổng Văn B (số th tự 1, cột ghi Họ và tên đ ghi: Khổng Văn B) thành các đ ng th a kế của ng Khổng Văn B và bà Phạ Thị V v đ ác định hai cụ có 09 người con, g các ng, bà: Khổng Thị N, Khổng Thị Th, Khổng Thị H, Khổng Thị N, Khổng Thị , Khổng Thị H, Khổng Văn , Khổng Văn , Khổng Văn H (bà N là iệt sỹ, hi sinh nă 1971; ông X t nă 2 1 và chỉ bồi thường hỗ tr tài sản xây dựng, cây cối, tiền thuê nhà cho ông H là đúng pháp luật.

3. Về yêu cầu đền bù diện tích 32m2 đất, ông H cho r ng là đất của cha ông để lại n m trong diện tích bố mẹ đã cho ông thì theo Sổ mục kê và bản đồ 299 tại thửa số 40 diện tích 276m2 đất ao và thửa số 41 diện tích 192m2 đất ở mang tên cụ Khổng Văn B. Phần diện tích 32m2 đất tiếp giáp với thửa đất số 41 trước đây là đất thủy l i và hiện trạng là đất giao thông. Ông H không cung cấp đư c tài liệu gì liên quan đến quyền sử dụng đất đối với nội dung này.

Như vậy, UBND thành phố T ban hành Quyết định thu hồi đất 4864 Quyết định số 4866/QĐ-UBND ngày 10/8/2017 đối với diện tích 99,0m2 của Ông Khổng Văn B, bà Phạm Thị V; Quyết định số 4967/QĐ-UBND ngày 12/11/2018 về điều chỉnh đối tư ng đư c bồi thường, hỗ tr giải phóng mặt b ng; Quyết định số 1793/QĐ-UBND ngày 06/8/2014 của UBND tỉnh về việc ủy quyền thu hồi đất, phê duyệt phương án bồi thường, hỗ tr và tái định cư là đúng thẩm quyền, trình tự, nội dung bồi thường, hỗ tr giải phóng mặt b ng theo quy định tại Điều 69, Điều 74, Điều 75, Điều 79, Điều 88, Điều 89, Điều 91 Luật Đất đai năm 2013, Bộ Luật Dân sự năm 2015, Bộ Luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng d n một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự.

4. Về kết quả giải quyết khiếu nại:

- Đối với việc giải quyết khiếu nại của Chủ tịch UBND thành phố T tại Quyết định số 3256/QĐ-UBND ngày 20/7/2018 của Chủ tịch UBND thành phố T: Về trình tự, thẩm quyền giải quyết khiếu nại (lần đầu của Chủ tịch UBND thành phố T tại Quyết định số 3256/QĐ-UBND ngày 20/7/2018 đảm bảo đúng theo quy định tại Luật Khiếu nại năm 2011 và các Văn bản hướng d n thi hành Luật Khiếu nại.

T căn cứ trên, ngày 13/9/2019 Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình có Quyết định số 2567/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của ông Khổng Văn H (lần hai ; trong đó: Công nhận và giữ nguyên kết quả giải quyết khiếu nại (lần đầu tại Quyết định số 3256/QĐ-UBND ngày 20/7/2018 của Chủ tịch UBND thành phố T đối với khiếu nại của ông Khổng Văn H khiếu nại Quyết định số 4866/QĐ-UBND ngày 10/8/2017 của UBND thành phố Thái Bình. Việc giải quyết đơn khiếu nại của ông Khổng Văn H của Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình đảm bảo đúng trình tự, thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

Người bị kiện UBND thành phố T, ng Đ là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho tr nh bày: Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 19/6/2015; Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản hướng d n thi hành; Quyết định số 2405/Q - UBND ngày 12/10/2015 của UBND tỉnh Thái Bình về việc phê duyệt điều chỉnh cục bộ Quy hoạch chi tiết t lệ 1/500 đường vành đai phía Nam thành phố Thái Bình khu vực nút giao với Quốc lộ 10 và đường vành đai phía Bắc thành phố tại xã Đ. UBND Thành phố đã chỉ đạo các phòng, ban, đơn vị liên quan tham mưu và tổ chức thực hiện công tác thu hồi đất, bồi thường, hỗ tr giải phóng mặt b ng theo quy định pháp luật.

Về quá trình xem xét giải quyết đơn khiếu nại, trình tự thủ tục đảm bảo đúng quy định pháp luật.

1. Đối với yêu cầu của ông H về việc ra Quyết định thu hồi đất phải ghi đúng tên người sử dụng bị thu hồi là ông Khổng Văn H thì Căn cứ vào nội dung khiếu nại của ông H UBND thành phố T đã xác minh nguồn gốc đất thu hồi là đất thổ cư của cụ B và cụ V chưa làm thủ tục th a kế theo quy định pháp luật, xác minh với những người con của hai cụ đều đề nghị phân chia di sản th a kế theo quy định pháp luật. Do đó Quyết định thu hồi đất ghi tên cụ B và cụ V là đúng quy định pháp luật.

2. Đối với yêu cầu đền bù tiếp 32m2 đất giáp đường 10, theo ông H đây là đất cha ông để lại chưa đư c đền bù. UBND thành phố T đã xác minh, căn cứ theo Báo cáo số 04/BC-UBND ngày 17/7/2018 của UBND xã Đ kết luận diện tích 32m2 theo bản đồ 299 thuộc mương thủy l i và hiện trạng là đất giao thông. Ông Khổng Văn H không cung cấp đư c giấy tờ có liên quan để chứng minh quyền sử dụng đất theo nội dung đề nghị nêu trên. Do đó UBND thành phố T đã giữ nguyên Quyết định số 4866 về phê duyệt phương án bồi thường, hỗ tr GPMB.

Vì vậy, UBND Thành phố thống nhất với quyết định giải quyết khiếu nại (lần hai của Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình tại Quyết định số 2567/QĐ - UBND ngày 13/9/2019.

Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

Chủ tịch UBND thành phố T do người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp là ng Đ trình bày: Quyết định 3256 ngày 20/7/2018 của Chủ tịch UBND thành phố T ban hành là có căn cứ đúng quy định của pháp luật, nên không chấp nhận yêu cầu của khởi kiện của ông H.

Hàng th a kế của cụ B và cụ V g các ng bà: Khổng Thị T, Khổng Thị H1, Khổng Thị N, Khổng Văn thống nh t tr nh bày: Hai cụ có 09 người con, Bà N chết năm 1972 và ông X chết năm 2010. Cụ B, cụ V chết không để lại di chúc, không tặng cho bất cứ con nào. Ông H, bà N, ông X, ông Q tự ý chia đất cho nhau. Năm 2017 cụ B và cụ V bị nhà nước thu hồi 99m2 đất trong đó có 38,6m2 đất ở do ông H và anh C đang sử dụng. Nay các anh chị em bà đều xác định 99m2 đất bị thu hồi là của hai cụ, nhất trí về giá đất thu hồi, đề nghị chia số tiền thu hồi đất theo hàng th a kế cho tất cả các con của cụ.

Anh Khổng Văn H nhất trí với lời trình bày của bà T, bà H, bà N, ông Q.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông H có kiến:

Ông Khổng Văn H có đầy đủ chứng cứ sử dụng 64m2 h p pháp, đư c Nhà nước công nhận:

+ Mẹ đẻ tách thổ trong bản kê khai 299 (bản gốc do UBND xã Đ hiện lưu giữ ;

+ Nhà nước lập bản đồ địa chính (2001-2002 , VLAP 2012, 2016 xác nhận chủ sử dụng đất là Khổng Văn H;

+ Đư c Chủ tịch xã Đ và các hộ dân xác nhận sử dụng đất ổn định, có hộ khẩu thường trú, có biên lai nộp thuế đất ở theo đúng quy định của pháp luật về đất đai;

+ Có b ng chứng về việc yêu cầu đền bù tiếp 32m2 vì diện tích 32m2 là đất của ông H chứ không phải đất thủy l i, đất này sát đường 10, trước cửa không có mương thủy l i, hai lần giải phóng mặt b ng: năm 1996 giải phóng mặt b ng thực hiện NĐ 36CP, năm đó các nhà mặt đường có lấn vào hành lang giao thông đều bị tháo dỡ nhưng nhà và cây của nhà ông H v n giữ nguyên mà không ai phá dỡ.

Theo quy định tại Điều 79, Luật tố tụng hành chính năm 2015 thì đây là các chứng cứ ông H không phải chứng minh.

Nên ông Phòng khẳng định Quyết định số 2567/QĐ - UBND ngày 13/9/2019 của Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình về việc giải quyết khiếu nại (lần hai của ông Khổng Văn H là trái pháp luật, yêu cầu hủy.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 01/2020/HC-ST ngày 08/5/2020, Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình đã quyết định:

Áp dụng: khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32, điểm a khoản 3 Điều 116, Điều 164; điểm a khoản 2 Điều 193, Điều 204, Điều 206 và khoản 1 Điều 348 Luật Tố tụng hành chính;

Điều 29, điều 38,43, Luật tổ chức chính quyền địa phương;

Điều 17,18, 21, 27,29,30,31,36,38,39,40 Luật khiếu nại năm 2011;

Khoản 11, khoản 12 Điều 22, khoản 3 Điều 23, Điều 204, Điều 208 Luật đất đai năm 2013;

Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện ông Khổng Văn H về việc:

- Hủy Quyết định giải quyết khiếu nại (lần hai) số 2567/QĐ-UBND ngày 13/9/2019 của Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình và Quyết định giải quyết khiếu nại (lần đầu) số 3256/QĐ-UBND ngày 20/7/2018 của Chủ tịch UBND thành phố T.

- Yêu cầu UBND thành phố Thái Bình ra Quyết định thu hồi đất phải ghi đúng tên người sử dụng bị thu hồi là Khổng Văn H.

- Yêu cầu UBND thành phố Thái Bình phải đền bù tiếp cho ông 32m2 đất giáp đường 10.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí, thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 20/5/2020, người khởi kiện là ông Khổng Văn H kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và ủy quyền cho ông Bùi Văn P trình bày, sau đó ông H bổ sung nội dung chính như sau:

Phần đất ông H đang sử dụng có nguồn gốc của bố mẹ ông đã cho ông t năm 1981, mặc dù ông chưa đư c cấp sổ đỏ nhưng ông là chủ sử dụng h p pháp diện tích đất đã bị thu hồi là 38,6m2 trong tổng số 99m2 bị thu hồi và tại Quyết định số 4866/QĐ-UBND ngày 10/8/2017 của UBND thành phố T phê duyệt phương án bồi thường đã thu hồi lại ghi tên chủ sử dụng đất bị thu hồi là bố của ông H là không đúng vì bố mẹ ông chết đều đã trên 30 năm trong khi thời hiệu th a kế chỉ có 30 năm; Mặt khác còn không đền bù cho ông 32m2 vì diện tích 32m2 là đất của ông H chứ không phải đất thủy l i, đất này sát Đường 10, trước cửa không có mương thủy l i, năm 1996 giải phóng mặt b ng thực hiện Nghị định 36/NĐ-CP ngày 29/5/1995 của Chính phủ, năm đó các nhà mặt đường có lấn vào hành lang giao thông đều bị tháo dỡ nhưng nhà và cây của gia đình ông H v n giữ nguyên mà không ai phá dỡ. Đối với các hộ dân có đất bị thu hồi cùng tuyến đường này thì UBND thành phố T xác định mốc giới cách tim đường là 5m, còn xác định đất của ông H lại là 11,7 m để không đền bù phần này là làm thiệt hại cho ông H. Diện tích đất của bố, mẹ ông H nay đo thực tế tăng thêm trên 146m2 nay cả 06 hộ đang sử dụng nhưng chỉ xử lý đối với mình ông H là làm thất thoát ngân sách cho Nhà nước. Do đó, đề nghị Tòa án hủy các quyết định giải quyết khiếu nại nói trên và hủy các thông báo và quyết định thu hồi đất đối với ông H để đền bù như những hộ cùng tuyến đường này. Yêu cầu UBND thành phố T ra quyết định thu hồi 38,6m2 phải ghi đúng tên người đang có quyền sử dụng đất là ông Khổng Văn H và đền bù tiếp 32m2 đất cho ông Khổng Văn H.

Người bảo vệ quyền và l i ích h p pháp cho người bị kiện giữ nguyên quan điểm như đã trình bày tại Tòa án cấp sơ thẩm. Xác định quá trình thu hồi đất dựa trên kết quả xác minh nguồn gốc đất do UBND thành phố T thực hiện. Theo bản đồ 299 lập năm 1984 thì thửa đất đó đứng tên cụ B và cụ V, có xác nhận của Hội đồng đăng ký đất đai ngày 20/9/1984 và t đó chưa có đăng ký biến động về th a kế. Theo bản đồ 299 này thì đất của cụ B, cụ V có 02 thửa và có con mương thủy l i chạy dọc theo hành lang đường. Vì là đất mương thủy l i nên khi thu hồi không phải bồi thường. Do đó, giữ nguyên các quan điểm đã trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội phát biểu ý kiến:

Thẩm phán, Thư ký phiên tòa và các đương sự chấp hành đúng các quy định của Luật Tố tụng hành chính.

Về nội dung: Đối tư ng giải quyết trong vụ án này là Quyết định số 2567/QĐ – UBND ngày 13/9/2019 của Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình và các Quyết định khác liên quan. Xét việc ghi tên cụ B, cụ V và sau đó có quyết định bổ sung ghi rõ các cụ đã chết và ghi rõ tên của t ng người trong gia đình đang sử dụng đất là đúng; có cả diện tích đất bị thu hồi cũng là đúng, vì đây là di sản th a kế chưa có sự phân chia theo đúng quy định nên phải ghi rõ và đúng pháp luật.

Đối với diện tích 32m2 đất gia đình ông H đang quản lý không đư c bồi thường là căn cứ vào bản đồ 299 năm 1984 có con mương thủy l i. Việc năm 2001-2004 chỉ là tự kê khai; các hộ khác khi đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã kê khai và xử lý đúng theo quy định khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên đư c bồi thường. Các văn bản của Chủ tịch UBND thành phố T và UBND tỉnh Thái Bình là đư c ban hành đúng các quy định về thủ tục và có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

Do vậy, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính bác kháng cáo của ông Khổng Văn H, giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nghe lời trình bày của đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Đơn kháng cáo của ông Khổng Văn H trong hạn luật định, đã nộp tạm ứng án phí theo quy định nên đư c chấp nhận để xem xét theo thủ tục xét xử phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Khổng Văn H có mặt trình bày các nội dung n m trong đơn kháng cáo nên đư c chấp nhận để xét.

Tại phiên tòa phúc thẩm, người bảo vệ quyền và l i ích h p pháp của UBND tỉnh Thái Bình đã xuất trình tờ bản đồ 299 lập năm 1984 có dấu sao của Sở Tài nguyên và Môi trường giống như bản đồ do ông H xuất trình, đã đư c đối chiều công khai; ông H xác nhận là đúng nên đư c coi là chứng cứ, tài liệu này phù h p với tài liệu đã có trong hồ sơ vụ án.

Về nội dung, xét kháng cáo của ông Khổng Văn H:

Trên cơ sở các tài liệu, chúng cứ đã đư c xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên; Hội đồng xét xử nhận thấy về hình thức, trình tự, thủ tục và thẩm quyền ban hành các quyết định hành chính:

Thực hiện Quyết định số 2405/QÐ-UBND ngày 12/10/2015 của UBND tỉnh Thái Bình về việc phê duyệt điều chỉnh cục bộ Quy hoạch chi tiết t lệ 1/500 đường vành đai phía Nam thành phố Thái Bình khu vực nút giao với Quốc lộ 10 và đường vành đai phía Bắc thành phố tại xã Đ. UBND thành phố T đã kiểm tra, cùng các cơ quan ban ngành rà soát các loại đất bị thu hồi để ra thông báo thu hồi đất sau đó trong quá trình thực hiện nhiệm vụ đã ban hành các quyết định: Quyết định thu hồi đất 4864/QĐ-UBND ngày 10/8/2017; Quyết định số 4866/QĐ-UBND ngày 10/8/2017; Quyết định số 4967/QĐ-UBND ngày 12/11/2018; Quyết định số 7237/QĐ-UBND ngày 28/12/2017 của UBND thành phố T. Đây là những quyết định hành chính trong lĩnh vự quản lý Nhà nước về đất đai quy định tại khoản 11, khoản 12 Điều 22, Điều 23, Điều 208 của Luật Đất đai năm 2013. Ông H đã khiếu nại nên đã đư c Chủ tịch UBND thành phố T tiến hành thụ lý. Xác minh nội dung khiếu nại, tổ chức đối thoại với người khiếu nại (thể hiện dưới hình thức là biên bản làm việc) về việc giải quyết khiếu nại (lần đầu đối với khiếu nại của ông H là đúng quy định tại Điều 204 Luật Đất đai năm 2013; Điều 36 Luật tổ chức chính quyền địa phương; các điều 17, 27, 29,30,31 Luật Khiếu nại năm 2011.

Ông H tiếp tục khiếu nại đến UBND tỉnh Thái Bình, Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình đã tiến hành thụ lý, xác minh nội dung khiếu nại, tổ chức đối thoại với người khiếu nại, sau đó ban hành Quyết định về việc giải quyết khiếu nại (lần hai số 2567/QĐ-UBND ngày 13/9/2019 là đúng quy định tại Điều 204 Luật Đất đai năm 2013; Điều 29 Luật tổ chức chính quyền địa phương; các điều 18, 36, 38, 39, 40 Luật Khiếu nại năm 2011. Hội đồng xét xử thấy về thẩm quyền, trình tự, thủ tục ban hành các quyết định hành chính bị khiếu kiện là h p pháp.

Xét nguồn gốc toàn bộ diện tích đất liên quan đến diện tích đất hiện ông H đang quản lý, sử dụng và bị thu hồi liên quan đến nội dung của các Quyết định hành chính bị khiếu kiện:

- Xét nguồn gốc thửa đất số 9,10,11,14,15,25 tờ bản đồ địa chính số 22 tại xã Đ, thành phố T có nguồn gốc của cụ Khổng Văn B và cụ Phạm Thị V là chủ sử dụng theo tờ bản đồ 299 là hai thửa 40, 41 có diện tích là 192m2 đất ở và 275m2 đất ao.

-Xét việc ông H trình bày sau khi cụ B chết năm 1981, cụ V cho ông diện tích 64m2 đất ở nên ông đã làm ngay nhà mái rạ, sau đó ông phá nhà mái rạ, còn để lại tường gạch cũ để ông xây nhà mái b ng, ông có hộ khẩu riêng t năm 1984, ông đã nộp thuế sử dụng diện tích 64m2 t năm 1984 đến nay, đất không có tranh chấp, trong đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất của cụ V thể hiện thời điểm năm 1984 cụ V đã kê 02 hộ, 10 khẩu nên coi như là ông đã đư c cụ V cho đất nhưng ông H không xuất trình đư c văn bản tặng cho đất của cụ V.

Tại đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất của cụ V cũng không có phần diện tích đất 64m2 ghi tên ông H mà chỉ ghi 2 hộ và 10 khẩu và ghi diện tích đất thổ (T) là 192m2. Ngoài ra các hàng th a kế của hai cụ là bà N, bà T, bà H1, bà H, ông Q đều thống nhất hai cụ chết không để lại di chúc, không tặng cho riêng con nào, sau khi những anh chị em đi lấy chồng những người còn lại tự ý chia đất với nhau. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định ông H đã ở trên đất này cùng hai cụ cũng như các hàng th a kế khác trên thửa đất 40,41 của hai cụ chứ chưa có việc tặng cho hay các th a kế thực hiện việc chia di sản theo đúng quy định của pháp luật về th a kế tài sản đối với quyền sử dụng đất.

Xét yêu cầu của ông H về việc không bồi thường cho ông 32m2 đất giáp đường Quốc lộ 10 khi Nhà nước thu hồi: Theo ông diện tích đất này là diện tích đất ông cha ông để lại năm 1989, Nhà nước giải tỏa hành lang giao thông đã xác định gia đình ông không lấn chiếm, do vậy không phải giải tỏa, cách tính t tim đường Quốc lộ 10 vào đối với những hộ khác thì tính là 5m, hộ ông tính là 11,7m nên không bồi thường diện tích 32m2 với lý do đất mương thủy l i và ông giao nộp bản đồ thổ dưỡng đất xã Đ cho Tòa án, ông thấy trên bản đồ này không có mương thủy l i đi qua phần đất gia đình ông, việc xác định không có mương thủy l i đi qua còn có chữ ký của những người cao tuổi đã sống cùng thời với ông. Hội đồng xét xử thấy bản đồ địa chính 299 và sổ mục kê là loại giấy tờ đất đư c Nhà nước xác lập đầu tiên để quản lý đất đai đã thể hiện là đất thủy l i, sự biến động đất qua các thời kỳ khảo sát đo đạc lại diện tích thửa đất 40,41 nay là các thửa 9,10,11,15,25 đều không thay đổi, các hàng th a kế của hai cụ là bà T, bà N, bà H, ông Q đều xác định có mương thủy l i nhưng đã bị đôn lấp. Tại phiên tòa phúc thẩm đã công khai đối chiếu và làm rõ về con mương thủy l i thể hiện trên bản đồ 299.

Như vậy, với các tài liệu, chứng cứ đã viện d n ở trên có đủ cơ sở xác định lời trình bày của Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình, Chủ tịch UBD thành phố T xác định:“Thu h i 99m2 đ t của ông Khổng Văn B, bà Phạm Thị V (ông B, bà V đ chết) hiện ông H đang sử dụng diện tích 19,6 m2 tại thửa đ t số 9; ng Cường đang sử dụng diện tích 19m2 tại thửa đ t số 1 ; ng Q đang sử dụng diện tích 36m2 tại thửa đ t số 11 và 14; bà Nđang sử dụng diện tích 15,1m2 tại thửa đ t số 15; ông H đang sử dụng diện tích 9,3m2 tại thửa đ t số 25, đều thuộc tờ bản đ địa chính số 22 tại xã Đ, thành phố Thái B nh” trong đó đối tượng được b i thường, h trợ giải phóng m t b ng là các đ ng th a kế của ng Khổng Văn B và bà Phạm Thị V v đ ác định hai cụ có 9 người con, g các ng, bà: Khổng Thị N, Khổng Thị Th, Khổng Thị H, Khổng Thị N, Khổng Thị L, Khổng Thị H, Khổng Văn , Khổng Văn , Khổng Văn H (bà N là Liệt sỹ, hi sinh nă 1971; ông X m t nă 2 1 ) là có căn cứ.

[3 T những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy việc ông Khổng Văn H yêu cầu hủy Quyết định giải quyết khiếu nại số 2567/QĐ-UBND ngày 13/9/2019 của Chủ tịch UBND tỉnh Thái Bình và Quyết định giải quyết khiếu nại (lần đầu) số 3256/QĐ-UBND ngày 20/7/2018 của Chủ tịch UBND thành phố T là không có cơ sở chấp nhận. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện là có căn cứ. Nay ông Khổng Văn H kháng cáo nhưng không có thêm tài liệu, chứng cứ nào mới. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông H th a nhận đã đư c UBND tỉnh Thái Bình cho đối chiếu lại các tài liệu mà ông H đã nộp trước đây và tại phiên tòa này ông H cũng không giải trình làm rõ đư c thêm về yêu cầu kháng cáo của mình. Do đó, Hội đồng xét xử không chấp nhận nội dung kháng cáo của ông Khổng Văn H, cần giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Về án phí: Ông Khổng Văn H kháng cáo không đư c Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận, tuy nhiên ông Khổng Văn H sinh năm 1956, là người cao tuổi nên ông H không phải chịu án phí hành chính phúc thẩm.

Vì các lẽ trên, căn cứ khoản 1 Điều 241; khoản 1 Điều 349 Luật Tố tụng hành chính; Luật Người cao tuổi; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Không chấp nhận kháng cáo của ông Khổng Văn H; giữ nguyên quyết định của Bản án hành chính sơ thẩm số 01/2020/HC-ST ngày 08 tháng 5 năm 2020 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

2. Án phí: Ông Khổng Văn H không phải chịu án phí hành chính phúc thẩm. Hoàn trả lại cho ông H số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí hành chính phúc thẩm đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009283 ngày 26/5/2020 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Bình.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể t ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể t ngày tuyên án./.

Cỡ chữ