- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Duy Đ phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự - phạm tội mua bán trái phép chất…"
- Tòa quyết gì? Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự ; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 89/2020/HS-ST Ngày: 22-9-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội Đ xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Lâm.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Vinh Quang;
Ông Lê Thanh Giang.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Lan Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thư - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 9 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 81/2020/TLST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:79/2020/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2020 đối với bị cáo:
Đoàn Duy Đ; sinh năm 1978 tại xã G1, huyện G, tỉnh N; nơi cư trú: Xóm Q, xã G1, huyện G, tỉnh N; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn C và bà Nguyễn Thị Ch (đã chết);có vợ là Cao Thị S và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 26-5-2020 chuyển tạm giam từ ngày 01- 6- 2020 đến nay; “có mặt”.
- Người làm chứng: Anh Vũ Trường D; sinh năm 1990; địa chỉ: Xóm 21, xã G2, huyện G, tỉnh N; “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 18 giờ 10 phút ngày 26- 5- 2020, Vũ Trường D là đối tượng nghiện chất ma túy gặp Trần Thành L đang điều khiển xe máy BKS 30Y4-3538 ở khu vực xóm 21, xã Giao Long, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định. D nhờ Lộc chở vào xã G1, huyện Giao Thủy để mua ma túy về sử dụng nhưng D nói với Lộc là đi đòi nợ. Khi đến nhà Đoàn Duy Đ tại xóm Q, xã G1, huyện G; D bảo L đợi ở ngoài đường trước nhà Đ, một mình D vào trong nhà. Gặp Đ đang ở trong nhà, D hỏi Đ mua 200.000 đồng tiền Heroine, Đ trả lời với D là không có, nên D nói nhờ Đ đi mua hộ 200.000 đồng tiền Heroine và hứa trả công cho Đ 20.000 đồng. Đ đồng ý và nhận 200.000 đồng của D rồi điều khiển xe máy BKS 99F4-2486 đi; khoảng 10 phút sau, Đ trở về nhà và đưa cho D 02 gói Heroine đều gói bằng giấy vở học sinh. D nhận 02 gói Heroine của Đ rồi đưa cho Đ 20.000 đồng tiền công thì bị tổ công tác Công an huyện Giao Thủy phối hợp với Công an xã Giao Tiến phát hiện bắt quả tang. Vật chứng đã thu giữ gồm: 02 gói giấy nhỏ đều gói bằng giấy vở học sinh được niêm phong ký hiệu M; 01 xe máy BKS 99F4-2486 và 20.000 đồng tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Tại bản kết luận giám định số 572/GĐKTHS ngày 27- 5- 2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu bột màu trắng trong 02 (hai) gói nhỏ đều được gói bằng giấy vở học sinh được niêm phong ký hiệu M gửi giám định đều là ma túy. Loại ma túy: Heroine. Tổng khối lượng mẫu M: 0,032 gam.
Bản Cáo trạng số 85/CT-VKS ngày 24- 8- 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định truy tố bị cáo Đoàn Duy Đ về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo Đoàn Duy Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm của mình như đã nêu trên.
- Kiểm sát viên luận tội: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi mua bán trái phép 02 gói Heroine có tổng khối lượng là: 0,032 gam để kiếm lời. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội Đ xét xử tuyên bố bị cáo Đoàn Duy Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Đoàn Duy Đ từ 30 đến 36 tháng tù. Áp dụng khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn trả mẫu vật sau giám định; tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 20.000 đồng. Về hình phạt bổ sung: Bị cáolà đối tượng nghiện chất ma túy, lao động tự do thu nhập không ổn định, điều kiện kinh tế gia đình khó khăn, nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
- Bị cáo Đoàn Duy Đ nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma túy của mình là phạm tội, đề nghị Hội Đ xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được miễn hình phạt bổ sung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Giao Thủy, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ của vụ án nên có đủ cơ sở xác định: Khoảng 19 giờ ngày 26 - 5 - 2020, tại nhà ở của mình thuộc xóm Q, xã G1, Đoàn Duy Đ đã thực hiện hành vi giao 02 gói Heroine có tổng khối lượng 0,032 gam cho Vũ Trường D mà trước đó D đưa cho Đ 200.000 đồng nhờ mua hộ và được D trả cho 20.000 đồng tiền công, thì bị tổ công tác Công an huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định phối hợp với Công an xã Giao Tiến, huyện Giao Thủy làm nhiệm vụ tuần tra phát hiện bắt quả tang. Do đó, bị cáo Đoàn Duy Đ đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an tại địa phương. Bản thân bị cáo là người đủ khả năng nhận thức ma túy là hiểm họa của mỗi gia đình và cộng đồng xã hội là một trong những nguyên nhân làm gia tăng các tệ nạn xã hội, gia tăng tội phạm hình sự, xâm phạm tới đạo đức và sức khỏe con người. Bị cáo biết việc làm của mình bị pháp luật cấm, thấy trước được tác hại của ma túy nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi mua ma túy cho người khác để lấy tiền công. Do đó cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc buộc bị cáo phải tập trung cải tạo một thời gian để giáo dục riêng đối với bị cáo và đáp ứng công tác đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sựquy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng…”, do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy, lao động tự do thu nhập không ổn định, điều kiện kinh tế gia đình khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Căn khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn trả mẫu vật sau giám định.
- Đối với số tiền 20.000 đồng thu giữ của Đoàn Duy Đ, là tiền công bị cáo đi mua ma túy cho D mà có nên áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự, tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
Về nguồn gốc 02 gói Heroine đã thu giữ, bị cáo Đ khai mua của một người đàn ông không biết tên, tuổi, địa chỉ ở khu vực xóm K, xã G1 với giá 200.000 đồng. Quá trình điều tra không xác định được người bán Heroine cho Đ nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với hành vi đi mua 0,032 gam Heroine để sử dụng cho bản thân của Vũ Trường D, xét thấy D là đối tượng nghiện chất ma túy, lượng Heroine chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự nên Công an huyện Giao Thủy đã xử phạt hành chính là phù hợp.
Đối với Trần Thành L đã có hành vi chở Vũ Trường D đi mua ma túy, xét thấy khi cho D đi nhờ xe, L không biết D đi mua ma túy về sử dụng nên vấn đề xử lý không đặt ra.
Đối với chiếc xe máy BKS 99F4-2486, Đ sử dụng làm phương tiện để đi mua ma túy, quá trình điều tra xác định đó là tài sản hợp pháp của chị Đoàn Thị H (là em gái của Đ); khi Đ sử dụng xe máy để đi mua ma túy chị H không biết nên cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe máy trên cho chị H là phù hợp.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1Điều 51của Bộ luật Hình sự; tuyên bố bị cáo Đoàn Duy Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; xử phạt bị cáo Đoàn Duy Đ 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26 tháng 5 năm 2020.
2. Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự ; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu cho tiêu hủy toàn bộ số ma túy hoàn trả mẫu vật sau giám định.
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 20.000 đồng (Hai mươi nghìn đồng).
(Theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 26- 8-2020 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Giao Thủy).
3. Án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Đoàn Duy Đ phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Đoàn Duy Đ có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND huyện Giao Thủy; - Chi cục THADS huyện Giao Thủy; - Nhà tạm giữ Công an huyện Giao Thủy; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thanh Lâm |