- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lữ Đình Đ cùng đồng phạm - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự;
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 321 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 89/2020/HS-PT Ngày 17 – 3 – 2020. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lưu Thị Thu Hường.
Các Thẩm phán: Ông Trần Duy Tuấn, ông Hoàng Kim Khánh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Thị Bích Ngân - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông
Hoàng Văn Cầu - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 3 năm 2020, tại Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 46/2020/TLPT-HS ngày 11 tháng 02 năm 2020, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 39/2019/HSST ngày 31 tháng 12 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk.
Các bị cáo có kháng cáo:
1. LỮ ĐÌNH Đ; Sinh năm 1969, tại: tỉnh Quảng N; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn 8, xã Pơng Đ, huyện Krông B, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 9/12; Con ông Lữ Đình T và bà Phạm Thị Tr (đã chết); Vợ tên Phạm Thị L (đã ly hôn); Bị cáo có 03 con, lớn nhất sinh năm 1998, nhỏ nhất sinh năm 2011;
Tiền án: Không; Tiền sự: Không;
Nhân thân: Năm 2016, bị Tòa án nhân dân huyện Krông Búk xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”;
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 22/3/2019 đến ngày 30/3/2019. (Có mặt).
2. QUÁCH TRỌNG V; Sinh năm 1985, tại: tỉnh Hà Tĩnh; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn 4, xã Tân L, huyện Krông B, tỉnh Đắk Lắk; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 6/12; Con ông Quách Trọng Th (đã chết) và bà Lê Thị Kh; Vợ tên Lê Thị H; Bị cáo có 02 con, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2013.
Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Nhân thân: Năm 2011, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt 01 năm tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”; Năm 2013 bị Tòa án nhân dân huyện Krông Búk xử phạt 05 tháng tù về tội “Đánh bạc”.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 22/3/2019 đến ngày 30/3/2019. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lương Đình H có nhà ở tại thôn 15, xã Pơng Đ, huyện Krông B, tỉnh Đắk Lắk biết một số đối tượng sinh sống tại địa pH có nhu cầu đánh bạc dưới hình thức “Phỏm” để sát phạt nhau bằng tiền. Nhằm thu lợi bất chính, nên H đã rủ các con bạc đến nhà H để đánh bạc thu tiền xâu. H dùng nhà ở của H và chuẩn bị chiếu, bài, chăn là vật dụng cho việc đánh bạc.
Vào khoảng 11 giờ ngày 22/3/2019, có Nguyễn Văn T, Lữ Đình Đ, Nguyễn Đoàn Bảo K, Mai Quang T, Lê Hữu H đến nhà H để đánh bạc. H lấy bài và trải chăn ở khu vực trong nhà bếp để cho các đối tượng đánh bạc. Lúc này, Nguyễn Văn T và Mai Quang T chung tiền chơi chung một tụ, còn Đ, K, H mỗi người một tụ. Khoảng 01 giờ sau có thêm Vũ Tuấn A, Lê Anh D, Quách Trọng V, Nguyễn Văn Kh đến để đánh bạc và H làm thêm một chiếc bạc thứ hai. Các con bạc chia thành 02 chiếu như sau: Chiếu bạc thứ nhất có T (T và K chia đôi tiền thắng và được mỗi người 1.200.000 đồng), Vũ Tuấn A, Lữ Đình Đ, Lê Hữu H; Chiếu bạc thứ hai gồm có K, T, V, Kh (Kh và D chung một tụ). Số tiền dùng vào việc đánh bạc như sau: Bị cáo H mang theo số tiền 1.300.000 đồng và dùng vào việc đánh bạc; Bị cáo Đ mang theo số tiền 3.200.000 đồng và dùng vào việc đánh bạc; Bị cáo T mang theo số tiền 4.900.000 đồng và dùng vào việc đánh bạc; Bị cáo Tuấn A mang theo số tiền 1.000.000 đồng và dùng vào việc đánh bạc; Bị cáo K mang theo số tiền 6.500.000 đồng và dùng vào việc đánh bạc số tiền 2.000.000 đồng; Bị cáo V mang theo số tiền 3.000.000 đồng và dùng vào việc đánh bạc; Bị cáo T mang theo số tiền 1.800.000 đồng và dùng vào việc đánh bạc; Bị cáo Kh và bị cáo D chung một tụ và dùng só tiền 1.000.000 đồng vào việc đánh bạc. Tất cả chơi đến 15 giờ 30 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an tỉnh Đắk Lắk bắt quả tang.
- Thu trên chiếu bạc thứ nhất gồm: 7.450.000 đồng, 900.000 đồng tiền xâu, 01 hộp sứ, 01 tấm mền có kích thước 1m x 1m, 104 lá bài tây;
- Thu trên chiếu bạc thứ hai gồm: 7.500.000 đồng, 250.000 đồng tiền sâu, 01 hộp vỏ sữa Dielac mama, 01 chiếc nhựa kích thước 1,6m x 1,6m, 01 tấm mền kích thức 1,6m x 1,6m, 104 lá bài tây;
- Thu giữ trên người: Nguyễn Văn T số tiền 4.650.000 đồng, Vũ Tuấn A số tiền 650.000 đồng, Lê Hữu H số tiền 1.250.000 đồng, Nguyễn Đoàn Bảo K số tiền 4.500.000 đồng.
Tại bản án Hình sự sơ thẩm số 39/2019/HS-ST ngày 31/12/2019 của Tòa án nhân dân huyện Krông Búk đã quyết định:
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự:
- Xử phạt bị cáo Lữ Đình Đ 06 (sáu) tháng tù về tội đánh bạc, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian 09 ngày tạm giữ từ ngày 22/3/2019 đến ngày 30/3/2019.
- Xử phạt bị cáo Quách Trọng V 06 (sáu) tháng tù về tội đánh bạc, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian 09 ngày tạm giữ từ 22/3/2019 đến ngày 30/3/2019.
Án sơ thẩm còn tuyên về hình phạt đối với các bị cáo khác, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 13/01/2020, bị cáo Lữ Đình Đ và bị cáo Quách Trọng V kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đăk Lăk đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, đồng thời cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt mỗi bị cáo mức án 06 tháng tù là thỏa đáng. Các bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới nên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm hoàn toàn phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: vào ngày 22/3/2019, Lương Đình H đã sử dụng 02 căn phòng thuộc khu vực nhà bếp của gia đình để tổ chức hai chiếu bạc cho Nguyễn Văn T, Lữ Đình Đ, Nguyễn Đoàn Bảo K, Mai Quang T, Lê Hữu H, Vũ Tuấn A, Nguyễn Văn Kh, Quách Trọng V đánh bạc dưới hình thức “Phỏm” thắng thua bằng tiền nhằm thu lợi bất chính. Tất cả chơi đến 15 giờ 30 phút ngày 22/3/2019 thì bị lực lượng Công an tỉnh Đắk Lắk bắt quả tang. Tổng số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc là 22.650.000 đồng. Cấp sơ thẩm tuyên xử các bị cáo Lữ Đình Đ, Quách Trọng V về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lữ Đình Đ và bị cáo Quách Trọng V, Hội đồng xét xử xét thấy:
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an tại địa phương. Các bị cáo đều là người có nhân thân xấu: Bị cáo Lữ Đình Đ vào ngày 27/9/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Krông Búk xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội đánh bạc. Bị cáo Quách Trọng V vào ngày 01/12/2011, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xử phạt 01 năm tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”; Ngày 04/9/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Krông Búk xử phạt 05 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Các bị cáo không lấy đó làm bài học để tu dưỡng, sửa đổi bản thân mà tiếp tục phạm tội đánh bạc. Số tiền các bị cáo sử dụng vào mục đích đánh bạc nhiều hơn so với các bị cáo còn lại. Cấp sơ thẩm chỉ xử phạt mỗi bị cáo 06 tháng tù, bằng mức thấp nhất của khung hình phạt là đã thể hiện sự khoan hồng, nhân đạo của pháp luật. Các bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới, do đó không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của các bị cáo.
Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Lữ Đình Đ và bị cáo Quách Trọng V. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 39/2019/HS-ST ngày 31/12/2019 của Tòa án nhân dân huyện Krông Buk về hình phạt.
[2] Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 321, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự:
- Xử phạt bị cáo Lữ Đình Đ 06 (Sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 22/3/2019 đến ngày 30/3/2019.
- Xử phạt bị cáo Quách Trọng V 06 (Sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 22/3/2019 đến ngày 30/3/2019.
[3] Về án phí hình sự phúc thẩm:
Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án. Các bị cáo Lữ Đình Đ, Quách Trọng V mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ tiền án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Tối cao; - TAND cấp cao tại Đà Nẵng; - VKSND tỉnh Đắk Lắk (2 bản); - VP CSĐT Công an tỉnh Đắk Lắk; - Sở tư pháp tỉnh Đắk Lắk; - TAND huyện Krông Búk; - VKSND huyện Krông Búk; - Công an huyện Krông Búk; - Cơ quan THAHS huyện Krông B; - Chi cục THA DS huyện Krông B; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM/HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lưu Thị Thu Hường |