vanban.org

Bản án 89/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Bùi Thị H và anh Nguyễn Ngọc Kh.

Về nuôi con chung: 1. Giao con chung tên Nguyễn Trung H sinh ngày 03 tháng 3 năm 2004 và Nguyễn Thanh H sinh ngày 12 tháng 5 năm 2008 cho anh Nguyễn Ngọc Kh trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi khác theo quy định của pháp luật; Sau khi ly hôn, người không trực t… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Bùi Thị H xin ly hôn anh Nguyễn Ngọc Kh"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Bùi Thị H và anh Nguyễn Ngọc Kh.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THUỶ NGUYÊN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 89/2020/HNGĐ-ST
Ngày 08-6-2020
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhã

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Doãn Văn Sáng

Ông Phạm Văn Sóng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Hoàng Chính - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 6 năm 2020 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 109/2020/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 02 năm 2020 về Ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 5 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 82/2020/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Bùi Thị H; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn 4, xã M, huyện T, thành phố Hải Phòng. Nơi ở hiện nay: Thôn T, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng.Vắng mặt.(Có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc Kh; Địa chỉ: Địa chỉ: Thôn 4, xã M, huyện T, thành phố Hải Phòng; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 30 tháng 01 năm 2020 cùng các lời khai tại Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên, chị Bùi Thị H (nguyên đơn) trình bày:

Về hôn nhân: Chị Bùi Thị H và anh Nguyễn Ngọc Kh kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, được tổ chức lễ cưới theo phong tục địa phương, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện T, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận kết hôn số 33 năm 2002. Sau khi cưới vợ chồng sinh sống tại xã M, huyện T, thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống, vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm trong làm ăn kinh tế nên thường xảy ra va chạm, cãi mắng, xúc phạm nhau. Mâu thuẫn vợ chồng đã được hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Do mâu thuẫn căng thẳng nên vợ chồng đã ly thân từ tháng 6 năm 2019 cho đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho được ly hôn với Anh Nguyễn Ngọc Kh.

Về con chung: Chị Bùi Thị H khai chị và Anh Nguyễn Ngọc Kh có hai con chung tên là Nguyễn Trung H sinh ngày 03 tháng 3 năm 2004 và Nguyễn Thanh H sinh ngày 12 tháng 5 năm 2008. Từ khi ly thân, anh Kh là người trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung. Trường hợp ly hôn, chị có nguyện vọng xin nuôi con tên Nguyễn Thanh H nhưng nếu anh Kh có nguyện vọng xin nuôi cả hai con thì chị cũng đồng ý.Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, chị đề nghị để chị và anh Nguyễn Ngọc Kh tự thỏa thuận giải quyết, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Bùi Thị H khai chị và anh Nguyễn Ngọc Kh có tài sản chung nhưng thống nhất tự phân chia, nếu không xong sẽ yêu cầu Tòa án giải quyết sau.

Tại bản tự khai ngày 17 tháng 02 năm 2020 và quá trình giải quyết vụ án, anh Nguyễn Ngọc Kh (bị đơn) trình bày:

Về hôn nhân: Anh Nguyễn Ngọc Kh xác nhận lời khai của chị H về thời gian, điều kiện, hình thức kết hôn. Về nguyên nhân mâu thuẫn: theo anh Kh, vợ chồng anh không có mâu thuẫn gì, chị H tự ý bỏ nhà đi từ tháng 8 năm 2019 cho đến nay, nguyên nhân vì sao anh không rõ.Nay chị H xin ly hôn, quan điểm của anh vẫn còn tình cảm với chị H nên không đồng ý ly hôn nhưng nếu chị H quyết tâm ly hôn thì anh cũng đồng ý.

Về con chung: Anh Nguyễn Ngọc Kh khai anh và chị H có 02 con chung tên Nguyễn Trung H sinh ngày 03 tháng 3 năm 2004 và Nguyễn Thanh H sinh ngày 12 tháng 5 năm 2008. Từ khi ly thân, anh là người trực tiếp nuôi con. Trường hợp ly hôn, anh có nguyện vọng xin được nuôi hai con chung tên Nguyễn Trung H và Nguyễn Thanh H. Về nghĩa cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Kh tự thỏa thuận với chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Anh Nguyễn Ngọc Kh khai: Anh và chị H có tài sản chung nhưng thống nhất tự thỏa thuận phân chia, nếu không xong sẽ yêu cầu Tòa án giải quyết sau.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng, bị đơn chưa tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng. Về việc giải quyết nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 147, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Cho ly hôn giữa chị Bùi Thị H và anh Nguyễn Ngọc Kh. Giao con chung tên Nguyễn Trung H sinh ngày 03 tháng 3 năm 2004 và Nguyễn Thanh H sinh ngày 12 tháng 5 năm 2008 cho anh Nguyễn Ngọc Kh trực tiếp nuôi dưỡng. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung do chị Bùi Thị H và anh Nguyễn Ngọc Kh tự thỏa thuận giao nhận cho nhau. Về tài sản chung vợ chồng do Tòa án không thụ lý giải quyết khi ly hôn nên Kiểm sát viên không đề cập giải quyết trong vụ án này. Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Đây là vụ án Ly hôn, tranh chấp về nuôi con quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện T, thành phố Hải Phòng. Chị Bùi Thị H vắng mặt tại phiên tòa và có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt, anh Nguyễn Ngọc Kh đã được triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do; Căn cứ Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt chị Bùi Thị H và anh Nguyễn Ngọc Kh.

Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Bùi Thị H và anh Nguyễn Ngọc Kh được xác lập theo Giấy chứng nhận kết hôn số 33 năm 2002 của Ủy ban nhân dân xã M, huyện T, thành phố Hải Phòng là hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, làm ăn kinh tế, mâu thuẫn trở nên căng thẳng, trầm trọng dẫn đến việc vợ chồng sống ly thân từ năm 2019 đến nay thể hiện tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã kéo dài và trầm trọng, hôn nhân không có hạnh phúc, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chị Bùi Thị H xin ly hôn với anh Nguyễn Ngọc Kh. Vì vậy, cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Bùi Thị H với anh Nguyễn Ngọc Kh.

Về con chung: Chị Bùi Thị H và anh Nguyễn Ngọc Kh có hai con chung tên Nguyễn Trung H sinh ngày 03 tháng 3 năm 2004 và Nguyễn Thanh H sinh ngày 12 tháng 5 năm 2008. Khi ly hôn chị Bùi Thị H đề nghị được nuôi dưỡng con tên Nguyễn Thanh H nhưng nếu anh Kh muốn nuôi hai con chị cũng đồng ý.Tài liệu, chứng cứ và lời trình bày của các đương sự thể hiện anh Nguyễn Ngọc Kh có điều kiện, khả năng và thời gian để chăm sóc con chung tốt, con chung đang do anh Kh nuôi dưỡng, khỏe mạnh và phát triển bình thường. Ngoài ra hai con Nguyễn Thanh H và Nguyễn Trung H đều có nguyện vọng xin được với bố trong trường hợp chị H, anh Kh ly hôn.Vì vậy áp dụng Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình giao con chung tên Nguyễn Trung H sinh ngày 03 tháng 3 năm 2004 và Nguyễn Thanh H sinh ngày 12 tháng 5 năm 2008 cho anh Nguyễn Ngọc Kh trực tiếp nuôi dưỡng. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, chị Bùi Thị H trình bày để tự thỏa thuận và anh Nguyễn Ngọc Kh không có yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Bùi Thị H và anh Nguyễn Ngọc Kh không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, Chị Bùi Thị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Xử:

1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Bùi Thị H và anh Nguyễn Ngọc Kh.

2. Về nuôi con chung:

2.1. Giao con chung tên Nguyễn Trung H sinh ngày 03 tháng 3 năm 2004 và Nguyễn Thanh H sinh ngày 12 tháng 5 năm 2008 cho anh Nguyễn Ngọc Kh trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi mỗi con chung đủ 18 tuổi hoặc có thay đổi khác theo quy định của pháp luật; Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

2.2. Nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Bùi Thị H và anh Nguyễn Ngọc Kh tự thỏa thuận giao nhận cho nhau.

3. Về tài sản chung: Chị Bùi Thị H và anh Nguyễn Ngọc Kh không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

4. Về án phí: Chị Bùi Thị H phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng, chị Bùi Thị H đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng tại Biên lai số 0003468 ngày 11 tháng 02 năm 2020; chị Bùi Thị H đã nộp đủ án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Bùi Thị H, anh Nguyễn Ngọc Kh được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ