- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Cao Thị B khởi kiện xin ly hôn ông Phạm Quốc T"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Không công nhận bà Cao Thị B và ông Phạm Quốc T là vợ chồng.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 89/2020/HNGĐ-ST Ngày 29 - 4 - 2020 V/v tranh chấp ly hôn |
NHAÂN DANH
NÖÔÙC COÄNG HOØA XAÕ HOÄI CHUÛ NGHÓA VIEÄT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẦM DƠI, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Ngọc Yến
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Phạm Thị Hà
Ông Nguyễn Văn Hiển
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Thanh Khuyên là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ D, tỉnh Cà Mau.
Ngày 29 tháng 4 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ D, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:61/2020/TLST- HNGĐ ngày 11 tháng 02 năm 2020, về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:118/2020/QĐXXST- HNGĐ ngày 11 tháng 3 năm 2020 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Cao Thị B, sinh năm 1977; Cư trú tại: Ấp M P, xã T A K, huyện Đ D, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
- Bị đơn: Ông Phạm Quốc T; Cư trú tại: Ấp M P, xã T A K, huyện Đ D, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện bà Cao Thị B trình bày:
Về hôn nhân: Bà B và ông T tổ chức đám vào năm 1998 nhưng không có đăng ký kết hôn, hôn nhân tự nguyện. Nguyên nhân là do cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên bà B yêu cầu xin ly hôn với ông T.
Về con chung: Trong quá trình chung sống ông, bà có 02 người con chung tên Phạm Quốc S, sinh năm 1998 và Phạm Quốc K, sinh năm 2004. Hiện nay cháu S đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Đối với cháu K, giao cho ông B nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng không đặt ra.
Về tài sản chung: Bà B xác định tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ: Bà B xác định không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Ông Phạm Quốc T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử nhưng ông Thống vắng mặt không có lý do; bà Cao Thị B có ý kiến xin từ chối tham gia phiên tòa sơ thẩm nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự là đúng quy định của pháp luật.
Về hôn nhân: Xét yêu cầu xin ly hôn của bà B thấy rằng, mặc dù hôn nhân của bà B và ông T trên cơ sở tự nguyện nhưng do ông, bà không có đăng ký kết hôn, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình, không công nhận bà B và ông T là vợ chồng.
Về con chung: Đối với cháu S đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Đối với cháu K, sinh năm 2004 bà B đồng ý giao cho ông T nuôi dưỡng, yêu cầu của bà B cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu K nên được chấp nhận. Giao cháu Phạm Quốc K, sinh năm 2004 cho ông T tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp. Việc cấp dưỡng không đặt ra.
Về tài sản chung: Bà B xác định tự thỏa thuận nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về nợ: Bà B xác định không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Cao Thị B phải chịu theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28; Điều 35 và khoản 4 Điều 147; điểm a khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và Lệ phí Tòa án;
1. Về hôn nhân: Không công nhận bà Cao Thị B và ông Phạm Quốc T là vợ chồng.
2. Về con chung: Giao cháu Phạm Quốc K, sinh năm 2004 cho ông Phạm Quốc T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bà Cao Thị B không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Cao Thị B phải chịu 300.000 đồng. Ngày 11 tháng 02 năm 2020 bà Cao Thị B đã dự nộp 300.000 đồng tại biên lai số 0010318 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ D, được chuyển thu.
Bà Cao Thị B và ông Phạm Quốc T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tænh Caø Mau; - VKSND huyện Đ D; - Chi cục THADS huyện Đ D; - Caùc ñöông söï; - Löu hoà sô; - Löu aùn vaên. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẤM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hồ Ngọc Yến |