- Tranh chấp gì? án hình sự — "BA LÒ VĂN T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Lò Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 89/2019/HSST Ngày 20 tháng 8 năm 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÔNG MÃ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lô Văn Long
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Thôn và bà Lò Thị Thành
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Quốc Huy là Thư ký Toà án nhân dân huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã tham gia phiên toà: Ông Sộng Nỏ Ly - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 8 năm 2019 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Sông Mã, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 81/2019/HSST ngày 12 tháng 7 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2019/QĐXXST-HS ngày 7 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo:
Lò Văn T, sinh ngày 14/8/1994, tại huyện Sg M, tỉnh Sơn La
Trú tại: Bản B, xã Ch Kh, huyện Sg M, tỉnh Sơn La; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Xinh Mun; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt nam; Con ông Lò Văn Kh và bà Lò Thị Ứ; Có vợ là Lò Thị A và 02 con.
Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tốt; Bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/3/2019 cho đến nay; có mặt.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Ông Lò Văn Kh, sinh năm 1974; trú tại: Bản B, xã Chg Kh, huyện Sg M, tỉnh Sơn La, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 16 giờ 30 phút, ngày 25 tháng 3 năm 2019, tổ công tác Đồn biên phòng cửa khẩu Chiềng Khương phối hợp với Công an huyện Sông Mã làm nhiệm vụ tại bản Khương Tiên, xã Chiềng Khương, huyện Sông Mã đã phát hiện, bắt quả tang Lò Văn T, sinh năm 1994, trú tại bản B, xã Ch Kh, huyện Sg M, tỉnh Sơn La đang có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Vật chứng thu giữ: Thu trong túi quần bên trái của T 01 túi nilon màu xanh chứa 190 viên nén mầu hồng. T khai nhận là hồng phiến; Ngoài ra còn tạm giữ của T 01(một) xe mô tô không rõ nhãn hiệu, không có biển kiểm soát, không có yếm, không có hộp xích, mặt đồng hồ công tơ mét bị vỡ, bưởng xe bên phải có chữ TALENT,bưởng bên trái có chữ HONDA, số khung RLHC 09023Y048165, số máy 003611; 01 điện thoại di động nhãn hiệu FPT, màu đỏ - đen, IMEI 980029005784528-980029005866127, bên trong có gắn 01 thẻ sim viettel.
Ngày 26/3/2019 tại Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La tiến hành mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng, trích mẫu giám định, kết quả: 190 viên nén màu hồng thu giữ của Tếu có khối lượng là 18,94 gam; trích 05 viên, khối lượng 0,58 gam làm mẫu giám định, ký hiệu A. Còn lại 185 viên, khối lượng 18,36 gam, ký hiệu A1 làm vật chứng lưu kho.
Kết luận giám định số 679 ngày 27/3/2019 của Phòng KTHS - Công an tỉnh Sơn La, kết luận: "Mẫu gửi giám định ký hiệu từ A là ma túy, loại Methamphetamine; Tổng khối lượng của các mẫu gửi giám định là 0,58 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 18,94 gam, loại Methamphetamine".
Quá trình điều tra Lò Văn T khai nhận hành vi phạm tội như sau:
T là đối tượng có sử dụng ma túy từ năm 2016. Trong năm 2018 T đi sang nước Lào và xin được số điện thoại của một người đàn ông quốc tịch Lào không rõ tên, tuổi và địa chỉ. Khoảng 12 giờ ngày 25/3/2019, T đem xe mô tô Wave Honda, biển kiểm soát 89K3-7225 của gia đình đi cầm cố tại quán của Phạm văn Nghĩa ở bản Khương Tiên, xã Chiềng Khương được số tiền 1.500.000đ rồi đi về nhà ngủ. Đến 13 giờ cùng ngày T gọi điện cho người đàn ông quốc tịch Lào mà tếu xin được số điện thoại từ năm 2018 hỏi mua hồng phiến với số tiền 3.000.000 đồng thì người này đồng ý và hẹn khoảng 16 giờ cùng ngày thì gặp nhau tại bờ sông thuộc bản Khương Tiên, Chiềng Khương để trao đổi mua bán ma túy. Khoảng 15 giờ 30 phút Lò Văn T đem theo số tiền 3.000.000 đồng và điều khiển xe mô tô Wave không có biển kiểm soát đến điểm hẹn đợi, khoảng 16 giờ 15 phút cùng ngày thì thấy người đàn ông quốc tịch lào đi đến, gặp nhau người này đưa cho T một túi nilon màu xanh chứa hồng phiến, T nhận lấy và đưa cho người này số tiền 3.000.000 đồng. Sau khi mua được hồng phiến T cho vào túi quần bên trái đang mặc rồi điều khiển xe mô tô đi về nhà, đi được khoảng 200 mét thì bị tổ công tác Đồn biên phòng cửa khẩu Chiềng Khương và Công an huyện Sông Mã phát hiện bắt quả tang cùng toàn bộ vật chứng của vụ án.
Bản Cáo trạng số: 81/CT-VKSSM ngày 11 tháng 7 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố bị cáo Lò Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Lò Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật viện dẫn áp dụng như nội dung bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lò Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Lò Văn T: Từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù;
Đề nghị Hội đồng xét xử miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng và án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Lò Văn T không có ý kiến gì đối đáp với lời luận tội của Kiểm sát viên, chỉ xin được giảm nhẹ hình phạt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Lò Văn Kh đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giải quyết được trả lại chiếc xe.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra và kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cở sở xem xét đầy đủ và toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, ý kiến của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Sông Mã, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Diễn biến tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lò Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; Biên bản bắt người phạm tội quả tang do Đồn biên phòng cửa khẩu Chiềng Khương, huyện Sông Mã lập hồi 16 giờ 30 phút, ngày 25 tháng 3 năm 2019. Vật chứng của vụ án là chất ma túy loại Methamphetamine. Kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Ngày 25/3/2019 Lò Văn T đang tàng trữ chất ma tuý là 190 viên nén màu hồng, loại Methamphetamine có khối lượng 18,94 gam, mục đích để sử dụng thì bị phát hiện và bị bắt quả tang.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung bản cáo trạng, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Đối chiếu với các điều luật tương ứng do Bộ luật Hình sự quy định, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lò Văn T đã phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tù từ năm năm đến mười năm. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sông Mã đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai.
Đánh giá tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã vi phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương nên cần xử lý nghiêm.
Đánh giá về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt thể hiện việc bị cáo không có tiền án, tiền sự. Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Để trừng trị đối với người đã thực hiện hành vi phạm tội, cũng như công tác đấu tranh phòng chống tội phạm về ma túy, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội trong một thời gian nhất định mới đảm bảo cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung là phạt tiền: Hội đồng xét xử thấy bị cáo không có tài sản gì nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với người đàn ông quốc tịch Lào là người đã bán ma tuý cho bị cáo tại khu vực bờ sông thuộc bản Khương Tiên, xã Chiềng Khương, huyện Sông Mã ngày 25/03/2019. Do không xác định được tên, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xử lý trong vụ án này.
Về xử lý vật chứng: Vật chứng đang bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Sông Mã gồm: 01 (một) túi nilon màu xanh chứa 185 viên ma túy, khối lượng 18,36 gam, loại Methamphetamine; 01 (một) xe mô tô không rõ nhãn hiệu, không có biển kiểm soát, không có yếm, không có hộp xích, mặt đồng hồ công tơ mét bị vỡ, bưởng xe bên phải có chữ TALENT,bưởng bên trái có chữ HONDA, số khung RLHC 09023Y048165, số máy 003611; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu FPT, màu đỏ - đen, IMEI 980029005784528-980029005866127, bên trong có gắn 01 thẻ sim viettel.
- Đối với 01 (một) túi nilon màu xanh chứa 185 viên ma túy, khối lượng 18,36 gam, loại Methamphetamine là vật nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu để tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu FPT, màu đỏ - đen, IMEI 980029005784528-980029005866127, bên trong có gắn 01 thẻ sim viettel là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, nên cần tịch thu phát mại nộp ngân sách nhà nước.
- Đối với 01 (một) xe mô tô không rõ nhãn hiệu, không có biển kiểm soát, không có yếm, không có hộp xích, mặt đồng hồ công tơ mét bị vỡ, bưởng xe bên phải có chữ TALENT,bưởng bên trái có chữ HONDA, số khung RLHC 09023Y048165, số máy 003611 là phương tiện bị cáo T dùng để đi mua ma túy, qua điều tra xác định chủ sở hữu hợp pháp là ông Lò Văn Kh, trú tại bản Kh T, xã Ch Kh, huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La. Việc T là con ông Kh sử dụng xe mô tô đi mua ma túy ông Khuấy không biết. Tại phiên tòa, người có quyền lợi liên quan ông Lò Văn Kh đề nghị xin được trả lại chiếc xe mô tô là có căn cứ, nên HĐXX chấp nhận và cần trả lại 01 chiếc xe mô tô có đặc điểm nêu trên cho ông Lò Văn Kh.
Về án phí: Bị cáo Lò Văn T thuộc đối tượng hộ nghèo nên có thể được xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo: Lò Văn T phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Lò Văn T 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 25/3/2019.
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Áp dụng a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu để tiêu huỷ: 185 viên ma túy, khối lượng 18,36 gam, loại Methamphetamine.
- Tịch thu phát mại nộp ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu FPT, màu đỏ - đen, IMEI 980029005784528-980029005866127, bên trong có gắn 01 thẻ sim viettel.
- Trả lại cho người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Lò Văn Kh: 01 (một) xe mô tô không rõ nhãn hiệu, không có biển kiểm soát, không có yếm, không có hộp xích, mặt đồng hồ công tơ mét bị vỡ, bưởng xe bên phải có chữ TALENT,bưởng bên trái có chữ HONDA, số khung RLHC 09023Y048165, số máy 003611.
Những vật chứng trên theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản lập hồi 16 giờ 35 phút ngày 01 tháng 8 năm 2019 giữa Công an huyện Sông Mã và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sông Mã.
3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ Ban Thường Vụ Quốc hội. Bị cáo Lò Văn T được miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).
4. Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo - VKS huyện Sông Mã - Trại giam - TAND tỉnh Sơn La - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La - THAHS - CCTHADS huyện Sông Mã - Người có QLNVLQ - Lưu: Hồ sơ vụ án, án văn | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lô Văn Long |