vanban.org

Bản án 89/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/- Về hôn nhân: Cho chị Lê Thị T được ly hôn với anh Trần Nguyễn B.

2/- Về con chung: Tiếp tục giao cháu Trần Kim T1, sinh ngày 04/11/2014 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Chị T không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét giải quyết. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Lê Thị T xin ly hôn với anh Trần Nguyễn B"
  • Tòa quyết gì? 1/- Về hôn nhân: Cho chị Lê Thị T được ly hôn với anh Trần Nguyễn B.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TAM BÌNH
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 89/2019/HNGĐ-ST
Ngày 24 – 7 – 2019
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Thanh Thảo

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Kim Thanh

2. Ông Nguyễn Hoàng Tiến

- Thư ký phiên tòa: Bà Sơn Thị Chanh Thu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Không tham gia.

Ngày 24 tháng 7 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 166/2019/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2019 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2019/QĐXXST- HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 51/2019/QĐST-HNGĐ ngày 01 tháng 7 năm 2019 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Lê Thị T, sinh năm 1982 (có mặt)

Trú tại: ấp TA, xã TP1, huyện TP, tỉnh Bến Tre

2. Bị đơn: Anh Trần Nguyễn B, sinh năm 1978 (vắng mặt)

Trú tại: ấp A, xã PL, huyện TB, tỉnh Vĩnh Long

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 11 tháng 4 năm 2019 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là chị Lê Thị T trình bày sự việc như sau: Chị T và anh B cưới nhau vào năm 2011, hôn nhân do quen biết, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TP1, huyện TP, tỉnh Bến Tre. Thời gian chung sống vợ chồng được 07 năm thì phát sinh mâu thuẫn vợ chồng nên đã ly thân từ tháng 02 năm 2017 cho đến nay.

Nguyên nhân mất hạnh phúc do vợ chồng bất đồng ý kiến, thường xuyên cự cải nên cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, anh B có quan hệ với người phụ nữ khác bên ngoài. Nay chị T không còn tình cảm với anh B nên xin được ly hôn.

- Về con chung: Trong thời gian sống chung chị T và anh B có 01 con chung tên Trần Kim T1, sinh ngày 04/11/2014 hiện nay đang sống chung với chị T.

- Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Nay chị T yêu cầu được ly hôn với anh Trần Nguyễn B; yêu cầu được trực tiếp nuôi con là Trần Kim T1, sinh ngày 04/11/2014, không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra không có yêu cầu gì thêm.

Anh Trần Nguyễn B đã được tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng khác của Tòa án nhưng không có văn bản ý kiến gửi cho Tòa án đối với yêu cầu khởi kiện của chị T.

Tại phiên tòa sơ thẩm, chị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh B; yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung là cháu Trần Kim T1, không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con; về tài sản chung không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra không có yêu cầu gì thêm

Các đương sự không yêu cầu triệu tập thêm người làm chúng và không cung cấp thêm chứng cứ, tài liệu gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn là anh Trần Nguyễn B đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh B theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Về hôn nhân: Chị T và anh B sống chung với nhau trên sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TP1, huyện TP, tỉnh tỉnh Bến Tre theo giấy chứng nhận kết hôn số 63/2014 được Ủy ban nhân dân xã TP1 cấp ngày 12/9/2014, cho thấy hôn nhân giữa chị T và anh B là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn chị T và anh B sống chung với nhau được 07 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cải làm cho cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, anh B tự ý bỏ đi. Trong khoảng thời gian ly thân chị T và anh B không quan tâm, liên lạc với nhau và không tự đoàn tụ được. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm chị T cho rằng không còn tình cảm và cương quyết xin được ly hôn với anh B. Phía anh B không có yêu cầu phản tố hay ý kiến phản bác đối với yêu cầu của chị T. Xét thấy, tình trạng hôn nhân của chị T và anh B đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T đối với anh B là có cơ sở theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Trong thời gian sống chung chị T và anh B có 01 con chung tên Trần Kim T1, sinh ngày 04/11/2014, hiện do chị T nuôi dưỡng.

Xét thấy, trong thời gian chị T và anh B ly thân cháu T1 vẫn sống chung với chị T, vẫn phát triển tốt về thể chất, tinh thần. Do đó, nhằm tránh làm sáo trộn sự phát triển về tâm sinh lý và thể chất của trẻ nên cần tiếp tục giao cháu Trần Kim T1 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Chị T không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Anh B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số No 0011711, ngày 11/4/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình, chị T không phải nộp thêm.

Về quyền kháng cáo: Chị T có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh B vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo 15 ngày được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định tại khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1/- Về hôn nhân: Cho chị Lê Thị T được ly hôn với anh Trần Nguyễn B.

2/- Về con chung: Tiếp tục giao cháu Trần Kim T1, sinh ngày 04/11/2014 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng.

Chị T không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con nên không đặt ra xem xét giải quyết.

Anh B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con không ai được cản trở.

3/- Về tài sản chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét giải quyết.

4/- Về án phí dân sự sơ thẩm:

Chị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn; được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số No 0011711, ngày 11/4/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình, chị T không phải nộp thêm.

5/- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

6/- Về quyền kháng cáo: Chị T có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh B vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo 15 ngày được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ