vanban.org

Bản án 89/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Thị Dình: Cho chị Bùi Thị Dình được ly hôn anh Bùi Văn Tần.

Về con chung: Giao hai 02 con chung là Bùi Như Quỳnh, sinh ngày 27/06/2005 và Bùi Phương Oanh, sinh ngày 13/08/2015 cho chị Dình trực tiếp nuôi dưỡng từ tháng 10/2018 trở đi cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác. Chị Dình chưa yêu cầu anh Tần cấp dưỡng nuôi con chung v… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "89/2019/HNGĐ-ST 17/12/2019 Chị Bùi Thị V đề nghị ly hôn với anh Bùi Văn T"
  • Tòa quyết gì? Xử chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Thị Dình: Cho chị Bùi Thị Dình được ly hôn anh Bùi Văn Tần.
  • Căn cứ chính? Điều 82 Luật Hôn Nhân- Gia Đình; Điều 83 Luật Hôn Nhân- Gia Đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẠC SƠN
TỈNH HOÀ BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 35/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 15/10/2018
V/v : Tranh chấp về
Hôn nhân và Gia đình.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN- TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Nguyễn Thị Thanh Hoa.

Hội Thẩm Nhân Dân:

1. ông Quách Văn Tới;

2. ông Bùi Văn Ơn

- Thư ký phiên toà: bà Lê Thị Hồng- Thư ký Toà án huyện Lạc Sơn - tỉnh Hoà Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn- tỉnh Hòa Bình tham gia phiên toà: ông Bùi Mạnh Tuấn- Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn- tỉnh Hoà Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 67/2018/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 05 năm 2018 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/09/2018 giữa:

- Nguyên đơn: Bùi Thị Dình, sinh năm 1984. Cư trú và làm việc: xóm Đảng, xã Chí Thiện, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình (Có mặt).;

- Bị đơn: Bùi Văn Tần, sinh năm 1981. Cư trú và làm việc: xóm Đảng, xã Chí Thiện, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn ly hôn và các lời khai của mình, nguyên đơn chị Bùi Thị Dình trình bày:

1. Về hôn nhân:

Chị và anh Bùi Văn Tần có tìm hiểu và đăng ký kết hôn với nhau năm 2005 trên cơ sở tự nguyện và hợp pháp. Những năm đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Từ năm 2016, anh Tần bắt đầu ham chơi cờ bạc, dẫn đến kinh tế vợ chồng sa sút. Vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn và hiện đã sống ly thân từ tháng 04/2018 đến nay. Mặc dù chị Dình đã cho anh Tần rất nhiều cơ hội nhưng anh Tần không thay đổi. Thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị Dình xin ly hôn để giải phóng cho cả hai và ổn định cuộc sống, yên tâm nuôi con.

2. Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Bùi Như Quỳnh, sinh ngày 27/06/2005 và Bùi Phương Oanh, sinh ngày 13/08/2015. Hiện các cháu còn nhỏ và đang sống cùng chị Dình. Do hiện tại anh Tần đi làm ăn xa nên khi ly hôn chị Dình xin trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung và chưa yêu cầu anh Tần cấp dưỡng nuôi con chung với chị.

3. Về tài sản chung: chị Dình chưa yêu cầu giải quyết.

4. Về công nợ chung: chị Dình khai không có.

Ngoài ra chị Dình không có yêu cầu gì thêm.

Anh Tần vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa.

Phát biểu quan điểm tại phiên toà, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình công nhận việc chấp hành đúng theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, HĐXX và đương sự từ khi thụ lý đến trước khi HĐXX nghị án. Về việc giải quyết vụ án, Kiểm sát viên đề nghị như sau:

Về tố tụng: Anh Tần được tống đạt hợp lệ giấy triệu tập và các văn bản tố tụng khác nhưng không chấp hành. Phiên tòa đã phải hoãn một lần do đó đề nghị HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt anh Tần theo thủ tục chung là có cơ sở theo qui định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về hôn nhân: Xác định mâu thuẫn giữa chị Dình và anh Tần đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Dình là phù hợp Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật HN&GĐ năm 2014.

Về con chung: Xét yêu cầu của chị Dình là phù hợp các Điều 58; 81; 82; 83 Luật HN&GĐ năm 2014 nên đề nghị HĐXX chấp nhận.

Về tài sản: chị Dình chưa yêu cầu giải quyết. Về công nợ chung: chị Dình khai không có nên đề nghị HĐXX không đề cập giải quyết vấn đề tài sản và công nợ trong vụ án.

Ngoài ra không ai có ý kiến gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa và căn cứ ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa HĐXX nhận định:

Về tố tụng: anh Bùi Văn Tần đăng ký nhân khẩu thường trú tại xóm Đảng- xã Chí Thiện - huyện Lạc Sơn- tỉnh Hoà Bình. Quá trình giải quyết vụ án, anh Tần bỏ đi làm ăn xa nhưng không thông báo địa chỉ mới nên Tòa án không thể tống đạt được giấy triệu tập cho anh Tần. Hiện tại, anh Tần vẫn liên lạc và thỉnh thoảng vẫn về thăm gia đình tại xóm Đảng- xã Chí Thiện, được thông báo về lịch xét xử nhưng anh Tần không đến Tòa tham gia tố tụng. Theo qui định tại Điều 177; 179 Bộ luật tố tụng dân sự, TAND huyện Lạc Sơn đã tiến hành niêm yết công khai các giấy tờ tố tụng và thông báo cụ thể cho anh Tần biết về thời gian triệu tập nhưng anh Tần không chấp hành. Phiên tòa đã phải hoãn một lần do vắng mặt anh Tần. Do đó, HĐXX vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh Tần theo thủ tục chung là có cơ sở theo qui định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

. Về hôn nhân: Quá trình thu thập chứng cứ giải quyết vụ án, HĐXX xét thấy:

Quan hệ hôn nhân giữa anh Tần và chị Dình là hợp pháp. Cuộc sống chung vợ chồng thực sự có mâu thuẫn do anh Tần có những biểu hiện chơi cờ bạc, dẫn đến kinh tế vợ chồng sa sút. Vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn và hiện đã sống ly thân từ tháng 04/2018 đến nay. Từ những nhận định trên thấy mâu thuẫn giữa anh Tần và chị Dình đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Dình với anh Tần là phù hợp Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật HN&GĐ năm 2014.

. Về con chung:

Anh Tần và chị Dình có 02 con chung là Bùi Như Quỳnh, sinh ngày 27/06/2005 và Bùi Phương Oanh, sinh ngày 13/08/2015. Hiện các cháu còn nhỏ và đang sống cùng chị Dình, anh Tần lại đi làm ăn xa, chị Dình có đầy đủ điều kiện nuôi con và khi ly hôn chị Dình xin được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung; Cháu Quỳnh cũng bày tỏ ý kiến muốn được ở với mẹ. Xét quyền lợi mọi mặt của con chưa thành niên thấy cần chấp nhận yêu cầu của chị Dình là phù hợp các Điều 58; 81; 82; 83 Luật HN&GĐ năm 2014.

Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Chị Dình chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung; Theo kết quả xác minh tại địa phương thì chị Dình có đầy đủ điều kiện nuôi con. Căn cứ các Điều 82; 83 Luật HN&GĐ năm 2014, HĐXX xét thấy chưa cần thiết giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung trong vụ án. Việc cấp dưỡng nuôi con sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.

. Về tài sản chung: chị Dình chưa yêu cầu giải quyết. Về công nợ chung: chị Dình khai không có nên HĐXX không đề cập giải quyết vấn đề tài sản và công nợ trong vụ án.

. Về án phí: Chị Dình phải chịu án phí theo qui định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ vào: Điều 51; khoản 1 Điều 56; 58; 81; 82; 83 Luật Hôn Nhân- Gia Đình năm 2014; khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Xử chấp nhận yêu cầu của chị Bùi Thị Dình: Cho chị Bùi Thị Dình được ly hôn anh Bùi Văn Tần.

- Về con chung: Giao hai 02 con chung là Bùi Như Quỳnh, sinh ngày 27/06/2005 và Bùi Phương Oanh, sinh ngày 13/08/2015 cho chị Dình trực tiếp nuôi dưỡng từ tháng 10/2018 trở đi cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác. Chị Dình chưa yêu cầu anh Tần cấp dưỡng nuôi con chung với chị. Anh Tần có quyền đi lại thăm con chung không ai được cản trở.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự. Người thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

- Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự buộc chị Dình phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm. Đối trừ 300.000đ dự phí chị Dình đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004307 ngày 14/05/2018 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạc Sơn, nay chị Dình không phải nộp án phí nữa.

Đã báo cho đương sự có mặt biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày bản án hoặc trích lục án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết công khai tại trụ sở UBND nơi cư trú của họ.

Cỡ chữ