vanban.org

Bản án 89/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử chấp nhận yêu cầu của ông Trần Phú Nguyên: Cho ông Trấn Phú Nguyên được ly hôn bà Phạm Thị Nhung.

Về con chung: Giao con chung là Trần Ngọc Toản, sinh ngày 28/6/2005 cho ông Nguyên trực tiếp nuôi dưỡng từ tháng 2/2018 trở đi cho đến khi cháu Toản đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác. Ông Nguyên chưa yêu cầu bà Nhung cấp dưỡng nuôi con chung với ông. Bà Nhung có quyền đi lại thăm con c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "89/2019/HNGĐ-ST 17/12/2019 Chị Bùi Thị V đề nghị ly hôn với anh Bùi Văn T"
  • Tòa quyết gì? Xử chấp nhận yêu cầu của ông Trần Phú Nguyên: Cho ông Trấn Phú Nguyên được ly hôn bà Phạm Thị Nhung.
  • Căn cứ chính? Điều 58 Luật Hôn Nhân- Gia Đình; Điều 81 Luật Hôn Nhân- Gia Đình; Điều 82 Luật Hôn Nhân- Gia Đình
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LẠC SƠN
TỈNH HOÀ BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 05/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 07/02/2018
V/v : Tranh chấp về
Hôn nhân và Gia đình.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠC SƠN- TỈNH HÒA BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: bà Nguyễn Thị Thanh Hoa.

Hội Thẩm Nhân Dân: ông Bùi Văn Ơn và ông Bùi Văn Thiệu

- Thư ký phiên toà: bà Lê Thị Hồng- Thư ký Toà án huyện Lạc Sơn - tỉnh Hoà Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn- tỉnh Hòa Bình tham gia phiên toà: ông Lê Xuân Trường- Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 02 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn- tỉnh Hoà Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 201/2017/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2017 về tranh chấp Hôn nhân và gia đình. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 10/01/2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Trần Phú Nguyên, sinh năm 1964. Cư trú và làm việc: phố Thống Nhất, thị trấn Vụ Bản, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình (có mặt);

- Bị đơn: Phạm Thị Nhung, sinh năm 1970. Nơi ĐKNKTT: phố Thống Nhất, thị trấn Vụ Bản, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Trong đơn ly hôn và các lời khai của mình, nguyên đơn ông Trần Phú Nguyên trình bày:

1. Về hôn nhân:

Ông và bà Phạm Thị Nhung có tìm hiểu và đăng ký kết hôn với nhau năm 1990 trên cơ sở tự nguyện và hợp pháp. Sống với nhau đến năm 2007 thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bà Nhung không quan tâm chăm sóc gia đình, mải mê chơi bời khiến kinh tế gia đình sa sút, cuộc sống chung luôn căng thẳng nặng nề không có hạnh phúc. Mặc dù gia đình hết lời khuyên can nhưng bà Nhung không thay đổi. Hiện ông bà sống ly thân đã lâu. Thấy tình cảm vợ chồng không còn nên ông xin ly hôn để giải phóng cho cả hai và ổn định cuộc sống.

2. Về con chung: Ông bà có 02 con chung là Trần Tuấn Anh, sinh ngày 14/9/1990 và Trần Ngọc Toản, sinh ngày 28/6/2005. Hiện cháu Tuấn Anh đã trưởng thành và có đủ khả năng lao động nuôi sống bản thân; cháu Toản còn nhỏ và đang sống cùng ông Nguyên. Do hiện tại bà Nhung không có mặt tại địa phương nên khi ly hôn ông Nguyên xin trực tiếp nuôi dưỡng cháu Toản và chưa yêu cầu bà Nhung cấp dưỡng nuôi con chung với ông.

3. Về tài sản chung; Công nợ chung: ông Nguyên khai không có.

Ngoài ra ông Nguyên không có yêu cầu gì thêm.

Bà Nhung vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa.

Phát biểu quan điểm tại phiên toà, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình công nhận việc chấp hành đúng theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự của Thẩm phán, HĐXX và các đương sự từ khi thụ lý đến trước khi HĐXX nghị án. Về việc giải quyết vụ án Kiểm sát viên đề nghị như sau:

Về tố tụng: Bà Nhung được tống đạt hợp lệ giấy triệu tập và các văn bản tố tụng khác nhưng không chấp hành. Phiên tòa đã phải hoãn một lần do đó đề nghị HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt bà Nhung theo thủ tục chung là có cơ sở theo qui định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về hôn nhân: Xác định mâu thuẫn giữa ông Nguyên và bà Nhung đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Nguyên là phù hợp Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật HN&GĐ năm 2014.

Về con chung: do hiện tại con chung của ông Nguyên và bà Nhung là cháu Trần Tuấn Anh, sinh ngày 14/9/1990 đã trưởng thành và có đủ khả năng lao động nuôi sống bản thân nên đề nghị không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi cháu Tuấn Anh; cháu Trần Ngọc Toản, sinh ngày 28/6/2005 còn nhỏ và đang sống cùng ông Nguyên. Do hiện tại bà Nhung không có mặt tại địa phương nên khi ly hôn đề nghị chấp nhận yêu cầu của ông Nguyên là giáo cháu Toản cho ông Nguyên trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Nguyên chưa yêu cầu bà Nhung cấp dưỡng nuôi con chung với ông nên đề nghị chưa đề cập vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp các Điều 58; 81; 82; 83 Luật HN&GĐ năm 2014.

Về tài sản chung; công nợ chung: ông Nguyên khai nhận không có nên đề nghị HĐXX không đề cập giải quyết trong vụ án.

Ngoài ra không ai có ý kiến gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa và căn cứ ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa HĐXX nhận định:

Bà Phạm Thị Nhung đăng ký nhân khẩu thường trú tại phố Thống Nhất-thị trấn Vụ Bản- huyện Lạc Sơn- tỉnh Hoà Bình. Quá trình giải quyết vụ án, bà Nhung đi làm ăn xa nhưng không thông báo địa chỉ mới nên Tòa án không thể tống đạt được giấy triệu tập cho bà Nhung. Thỉnh thoảng bà Nhung vẫn về liên lạc với gia đình tại phố Thống Nhất- thị trấn Vụ Bản. Theo qui định tại Điều 177; 179 Bộ luật tố tụng dân sự, TAND huyện Lạc Sơn đã tiến hành niêm yết công khai các giấy tờ tố tụng và thông báo cụ thể cho bà Nhung biết về thời gian triệu tập nhưng bà Nhung không chấp hành theo giấy triệu tập. Phiên tòa đã phải hoãn một lần do đó HĐXX vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bà Nhung theo thủ tục chung là có cơ sở theo qui định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

. Về hôn nhân: Quá trình giải quyết vụ án và xác minh tại địa phương HĐXX xét thấy:

Quan hệ hôn nhân giữa bà Nhung và ông Nguyên là hợp pháp. Cuộc sống chung vợ chồng thực sự có mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm sống. Hiện hai người đã sống ly thân. Từ những nhận định trên thấy mâu thuẫn giữa bà Nhung và ông Nguyên đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông Nguyên với bà Nhung là phù hợp Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật HN&GĐ năm 2014.

. Về con chung:

Bà Nhung và ông Nguyên có 02 con chung Trần Tuấn Anh, sinh ngày 14/9/1990 và Trần Ngọc Toản, sinh ngày 28/6/2005. Hiện tại cháu Tuấn Anh, đã trưởng thành và có đủ khả năng lao động nuôi sống bản thân nên không đặt ra vấn đề cấp dưỡng nuôi cháu Tuấn Anh. Riêng cháu Toản còn nhỏ và đang sống cùng ông Nguyên. Ông Nguyên có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con chung.

Theo kết quả xác minh tại địa phương thấy: Hiện tại bà Nhung bỏ đi làm ăn xa, không có mặt tại địa phương. Ông Nguyên có công việc và chỗ ở ổn định đủ khả năng nuỗi dưỡng, chăm sóc giáo dục con. Xuất phát từ điều kiện thực tế của các bên đương sự và quyền lợi mọi mặt của con chưa thành niên; căn cứ các Điều 58; 81; 82; 83 Luật HN&GĐ năm 2014, HĐXX thấy cần chấp nhận yêu cầu của ông Nguyên là giao cháu Toản cho ông Nguyên trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Nhung có quyền đi lại thăm con chung không ai được cản trở.

Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Ông Nguyên chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Căn cứ kết quả xác minh tại địa phương về điều kiện nuôi con của ông Nguyên; Căn cứ các Điều 82; 83 Luật HN&GĐ năm 2014 HĐXX xét thấy chưa cần thiết giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung trong vụ án. Việc cấp dưỡng nuôi con sẽ được giải quyết bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.

. Về tài sản chung; Công nợ chung:

Ông Nguyên khai không có nên HĐXX không đề cập giải quyết.

. Về án phí:

Ông Nguyên phải chịu án phí theo qui định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ: Điều 51; khoản 1 Điều 56; 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn Nhân- Gia Đình năm 2014; khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Xử chấp nhận yêu cầu của ông Trần Phú Nguyên: Cho ông Trấn Phú Nguyên được ly hôn bà Phạm Thị Nhung.

- Về con chung: Giao con chung là Trần Ngọc Toản, sinh ngày 28/6/2005 cho ông Nguyên trực tiếp nuôi dưỡng từ tháng 2/2018 trở đi cho đến khi cháu Toản đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác. Ông Nguyên chưa yêu cầu bà Nhung cấp dưỡng nuôi con chung với ông. Bà Nhung có quyền đi lại thăm con chung không ai được cản trở.

- Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự buộc ông Nguyên phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm. Đối trừ 300.000đ dự phí ông Nguyên đã nộp theo biên lai thu tiền số 0004247 ngày 15/11/2017 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạc Sơn, nay ông Nguyên không phải nộp án phí nữa.

Đã báo cho đương sự có mặt biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày bản án hoặc trích lục án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết công khai tại trụ sở UBND nơi cư trú của bị đơn.

Cỡ chữ