- Tranh chấp gì? án hình sự — "Giàng A P - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Giàng A P (Giàng Chá S) phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 89/2018/HSST Ngày 25 - 6 - 2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tòng Thị Hiền.
Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Đào.
Bà Lèo Thị Chan.
- Thƣ ký phiên tòa: Bà Phan Thị Thúy Hằng, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Hùng – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 90/2018/TLST-HS ngày 25 tháng 5 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 135/2018/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2018 đối với bị cáo:
Giàng A P, tên gọi khác: Giàng Chá S, sinh năm: 1979; nơi ĐKNKTT: Bản Ng, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hóa: 2/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; Đảng phái đoàn thể: Là đảng viên đã bị Huyện ủy M, Sơn La ra Quyết định xóa tên trong danh sách đảng viên số 368 ngày 22/01/2018 do không đóng đảng phí và bỏ sinh hoạt Đảng từ tháng 01/2017; con ông: Giàng A D1 và bà: Sồng Thị D2 (đều đã chết); có vợ là Sồng Thị C và 06 con (con lớn nhất sinh năm 1998, con nhỏ nhất sinh năm 2011); tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/01/2018 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
* Ngƣời bào chữa cho bị cáo: Trợ giúp viên pháp lý Cầm Kim L thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Sơn La, có mặt.
* Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Giàng A S1, sinh năm: 1975; nơi ĐKNKTT: Bản Ng, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 15h15’ ngày 01/12/2016, tại khu vực bản X, phường H, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La, tổ công tác phòng PC47 Công an tỉnh Sơn La phối hợp với Công an phường H phát hiện và bắt quả tang Giàng A P, trú tại: bản N, M đang có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy và thu giữ vật chứng: 02 gói ni lon bên trong chứa các viên nén màu hồng và màu xanh (nghi là Hồng phiến) cùng một số giấy tờ, tài sản có liên quan.
Cơ quan điều tra đã thành lập hội đồng mở niêm phong, cân tịnh, trích mẫu giám định xác định 02 gói ni lon có chứa các viên nén màu hồng, màu xanh thu giữ của Giàng A P có tổng trọng lượng 30,98 gam; kết quả giám định là đều là loại chất Methamphetamine.
Quá trình điều tra, bị cáo Giàng A P khai nhận:
Ngày 15/01/2018, Giàng A P từ nhà xuống thị trấn M chơi thì gặp và làm quen với một người đàn ông dân tộc Mông tự giới thiệu tên Sồng A D ở bản Co Vay, xã K, huyện M. Trong lúc nói chuyện D nói muốn giầu nhanh thì cùng đi bán ma túy với D, P đồng ý. Hai người thỏa thuận D đưa ma túy cho P mang bán, D sẽ trả tiền công cho P. D hẹn P sáng ngày 17/01/2018 đến khu vực đầu cầu treo thuộc thị trấn M để nhận ma túy. Như hẹn, khoảng 5h sáng ngày 17/01/2018 P đến nhà cháu họ ở cùng bản tên Giàng A Dênh mượn xe máy BKS 26F3 – 2481 đi xuống chỗ hẹn đợi D, đến khoảng 6h cùng ngày D đến đưa cho P 02 gói hồng phiến và bảo P mang ra thành phố Sơn La bán với giá 3.000.000đ/1 gói, nếu bán được D sẽ trả 500.000đ tiền công, P đồng ý nhận ma túy giấu vào túi quần đang mặc điều khiển xe máy ra thành phố Sơn La tìm người mua. Khi đi đến khu vực bản X, phường H, thành phố Sơn La thì bị phát hiện và bắt quả tang thu giữ vật chứng như đã nêu trên.
Về nguồn gốc 326 viên Methamphetamine có khối lượng 30,98 gam bị thu giữ trong vụ án: Giàng A P khai được người đàn ông dân tộc Mông tên Sồng A D ở bản T, xã K, huyện M đưa cho bán để hưởng tiền công, qua xác minh tại bản K M trước đây có bản T, nhưng nay đổi tên thành bản Huổi Pản, kết quả tra cứu hộ khẩu không có ai tên Sồng A D như lời khai của bị cáo.
Đối với Giàng A Dênh là cháu họ của bị cáo là người cho bị cáo mượn xe máy, Dênh không biết việc bị cáo mượn xe để vận chuyển ma túy, nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Do có hành vi nêu trên, tại cáo trạng số 54/CT-VKS ngày 25/5/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La đã truy tố bị cáo Giàng A P về tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo Giàng A P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng nêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015: xử phạt bị cáo Giàng A P 15 năm tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo, xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
- Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo Giàng A P: nhất trí với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La. Bị cáo sống ở vùng sâu vùng xa, trình độ nhận thức hiểu biết pháp luật hạn chế, phạm tội lần đầu nên đề nghị HĐXX xem xét xử phạt bị cáo mức thấp nhất của khung hình phạt. Do bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo nên đề nghị miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền và án phí hình sự đối với bị cáo.
Bị cáo nhận tội và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội: Bị cáo Giàng A P là người có nhận thức, biết được chất ma túy bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vì tư lợi đã cố ý vận chuyển trái phép 326 viên nén có khối lượng 30,98 gam loại chất Methamphetamine từ M ra thành phố Sơn La, mục đích mang bán để được hưởng tiền công. Trên đường vận chuyển ma túy đi bán đã bị kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang.
Hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau:
- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 15 giờ 30 phút ngày 17/01/2018 tại Công an phường Chiềng Lề, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La đối với Giàng A P cùng vật chứng đã thu giữ 326 viên ma túy có khối lượng 30,98 gam.
Tại kết luận giám định số 242/KLMT ngày 24/01/2018 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Sơn La kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu P1, P1’, P3, P3’ đều là chất ma túy, loại chất Methamphetamine”.
- Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp các chứng cứ khác đã thu thập có trong hồ sơ.
- Lời khai của ông Khúc Mạnh H, trú tại: tổ 3, phường H, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La có mặt chứng kiến việc cơ quan điều tra bắt quả tang các bị cáo khi đang có hành vi vận chuyển trái phép ma túy.
Với các căn cứ chứng minh trên, có đủ cơ sở kết luận hành vi của Giàng A P đã phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt quy định tại Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về khung hình phạt áp dụng: Bị cáo Giàng A P có hành vi vận chuyển trái phép 30,98 gam loại chất Methamphetamine để bán, đã vi phạm tình tiết định khung hình phạt “…Methamphetamine… có khối lượng từ 30 gam đến dưới 100 gam” quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, có mức hình phạt tù từ 15 năm đến 20 năm, thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng.
Tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo đã đi ngược lại với chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật nhà nước về đấu tranh phòng, chống ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội ở địa phương, trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy; là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tai, tệ nạn và các tội phạm khác trong xã hội, do đó cần có mức hình phạt thỏa đáng, nghiêm khắc tương xứng mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, lẽ ra bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung (ph t ti n) theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015, song xét thấy bị cáo hoàn cảnh khó khăn, không có tài sản có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung (ph t ti n) đối với bị cáo.
Về vật chứng vụ án:
Đối với số ma túy còn lại sau khi trừ mẫu gửi giám định là hàng Nhà nước cấm lưu hành, cần tuyên tịch thu tiêu hủy.
Đối 01 chứng minh nhân dân, 01 giấy phép lái xe, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Q.mobile và 100.000đ là tài sản cá nhân của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội, cần tuyên trả lại cho bị cáo.
Đối với 01 giấy chứng nhận công an xã không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 thẻ đảng viên mang tên Giàng A P cần giao cho UBKT Huyện ủy M xử lý theo thẩm quyền.
Đối với 01 xe mô tô hai bánh nhãn hiệu LonCin BKS 26F3 – 2481 là xe bị cáo mượn của Giàng A S1, bị cáo dùng vào việc phạm tội, anh S1 không biết, không liên quan, nên cần trả lại cho anh Giàng A S1.
Về án phí: Bị cáo được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm do thuộc diện hộ nghèo (có xác nhận của UBND xã N, huyện M) theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Giàng A P (Giàng Chá S) phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy.
1. Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015: xử phạt bị cáo Giàng A P (Giàng Chá S) 15 (Mười lăm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/01/2018.
Không áp dụng hình phạt bổ sung (ph t ti n) đối với bị cáo.
2. Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm a khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- Tịch thu tiêu hủy: 29,62 gam loại chất Methamphetamine, 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bị bóc mở, 02 túi ni lon màu xanh được niêm phòng trong một chiếc phong bì do Phòng PC47 Công an tỉnh Sơn La phát hành; 01 giấy chứng nhận công an xã mang tên Giàng A P, có số 10135373.
- Trả cho bị cáo Giàng A P: 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Giàng A P, có số 050577038 do Công an tỉnh Sơn La cấp ngày 03/10/2005; 01 giấy phép lái xe mang tên Giàng A P, có số 140135009728 do Sở giao thông vận tải tỉnh Sơn La cấp ngày 10/12/2013; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Q.mobile Model QQ115, vỏ màu xanh đen, IMEI có 04 số cuối 9793 kèm 02 sim trong máy và số tiền 100.000đ (Một trăm nghìn đồng).
- Giao cho Ủy ban kiểm tra huyện M 01 thẻ đảng viên có số 20039568 mang tên Giàng A P để xử lý theo thẩm quyền:
- Trả lại cho anh Giàng A S1: 01 chiếc xe mô tô hai bánh nhãn hiệu LonCin, mầu sơn màu đỏ có BKS 26F3 – 2481. Xe có số máy LC150FMG00340157; số khung LLCPCCGL91Y1040157, xe không hoạt động được, không có gương, chìa khóa (thu của Giàng A P).
3. Án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Giàng A P.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án./.
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Sơn La; - Phòng PC47-Công an tỉnh Sơn La; - Trại tạm giam Công an tỉnh Sơn La; - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La; - Bị cáo; LS; - Phòng KTNV- THA; - Lưu HS-AV. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Tòng Thị Hiền |