vanban.org

Bản án 89/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Mường La, tỉnh Sơn La Tuyên án 14/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Tiến M, Trần M H, Hoàng Vũ Mạnh H, Lê Quang T và Bùi M H phạm tội: “Đánh bạc”.

Xử phạt tiền các bị cáo sung vào ngân sách Nhà nước: Nguyễn Tiến M 23.000.000, đồng (hai mươi ba triệu đồng); Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tiến M, Trần M H, Hoàng Vũ Mạnh H, Lê Quang T và Bùi M H phạm tội: “Đánh bạc”. - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung mộ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Tiến M, Trần M H, Hoàng Vũ Mạnh H, Lê Quang T và Bùi M H phạm tội: “Đánh bạc”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ML
TỈNH SL

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

_________
Bản án số: 89/2018/HS-ST
Ngày 14/11/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ML, TỈNH SL

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn M Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hương và ông Nguyễn Đức Quyết.

- Thư ký phiên toà: Bà Quàng Thị Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện ML, tỉnh SL.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện ML tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Chí Công - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện ML, tỉnh SL xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 92/2018/TLST-HS ngày tháng 11 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2018/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo:

Nguyễn Tiến M, sinh ngày 19/02/1979, tại Bệnh viện đa khoa SL; Nơi ĐKHKTT: Tổ 9, phường QT, thành phố SL, tỉnh SL; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình S, sinh năm 1945 và bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1948; có vợ là Nguyễn Thị H, sinh năm 1987, có hai con lớn sinh năm 2010 nhỏ sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại; Bị cáo có mặt tại phiên toà.

Trần M H, sinh ngày 21/8/1968, tại Bệnh viện đa khoa SL; Nơi ĐKHKTT: Tiểu khu 4, thị trấn HL, huyện MS, tỉnh SL; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đ, sinh năm 1934 và bà Phạm Thị T, sinh năm 1936; có vợ là Chu Thị T, sinh năm 1973, có một con sinh năm 1994; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại; Bị cáo có mặt tại phiên toà.

Hoàng Vũ Mạnh H, sinh ngày 09/11/1979, tại Yên Khánh, Ý Yên, Nam Định; Nơi ĐKHKTT: Tiểu khu 18, thị trấn HL, huyện MS, tỉnh SL; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Đình B, sinh năm 1957 và bà Vũ Thị Ngọc L, sinh năm 1960; có vợ là Nguyễn Thị Bích L, sinh năm 1983, có hai con lớn sinh năm 2002 nhỏ sinh năm 2005; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại; Bị cáo có mặt tại phiên toà.

Lê Quang T, sinh ngày 18/9/1976, tại ĐT, thành phố HB, tỉnh HB; Nơi ĐKHKTT: Số nhà 12, tổ 12, phường ĐT, thành phố HB, tỉnh HB; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Quang M và bà Phạm Thị H đều đã chết; có vợ là Nguyễn Thị Lệ T, sinh năm 1978, có hai con lớn sinh năm 2001 nhỏ sinh năm 2011; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

Bùi M H, sinh ngày 31/10/1979, tại L, T, tỉnh HB; Nơi ĐKHKTT: Đội 11, xóm D, xã L, huyện T, tỉnh HB; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Mường; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi T H đã chết, bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1944; có vợ là Kiều Thị N, sinh năm 1985, có hai con lớn sinh năm 2011 nhỏ sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Các bị cáo Nguyễn Tiến M, Trần M H, Hoàng Vũ Mạnh H, Lê Quang T và Bùi M H bị Viện kiểm sát nhân dân huyện ML truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Khoản 11 giờ 40 phút, ngày 11/8/2018 tại bến xe khách huyện ML, tỉnh SL, Công an phát hiện bắt quả tang Nguyễn Tiến M, sinh ngày 19/02/1979, ở: Tổ 9, phường Quyết Thắng, thành phố SL, tỉnh SL; Trần M H, sinh ngày 21/8/1968, ở: Tiểu khu 4, thị trấn HL, huyện MS, tỉnh SL; Hoàng Vũ Mạnh H, sinh ngày 09/11/1979, ở: Tiểu khu 18, thị trấn HL, huyện MS, tỉnh SL; Lê Quang T, sinh ngày 18/9/1976, ở: Số nhà 12, tổ 12, phường ĐT, thành phố HB, tỉnh HB và Bùi M H, sinh ngày 31/10/1979, ở: Đội 11, xóm D, xã L, huyện T, tỉnh HB. Đang thực hiện hành vi đánh bạc với hình thức chơi “ba cây” được thua bằng tiền.

Vật chứng thu giữ:

36 quân bài tú lơ khơ từ át đến 9, mặt sau quân bài đều màu đỏ;

Số tiền Ngân hàng Nhà nước Việt nam 10.000.000, đồng thu giữ được trên chiếu.

Quá trình điều tra các bị cáo khai nhận: Khoảng 11 giờ ngày 11/8/2018 các bị cáo đi ăn cơm về phòng nghỉ trọ ở bến xe khách huyện ML, tỉnh SL. Nguyễn Tiến M rủ Bùi M H, Hoàng Vũ Mạnh H, Lê Quang T chơi ba cây, chơi được một lúc thì Trần M H đến cùng chơi. Hình thức chơi chia ba quân cộng điểm ai ít điểm trả cho người cao điểm nhất là 50.000, đồng một ván, ai được 10 điểm được cầm cái chia bài. Số tiền bỏ ra chơi bài mỗi người 2.000.000, đồng. Đang chơi đến khoảng 11 giờ 40 phút, ngày 11/8/2018 thì bị phát hiện bắt quả tang cùng vật chứng.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của các bị cáo Nguyễn Tiến M, Trần M H, Hoàng Vũ Mạnh H, Lê Quang T và Bùi M H đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”.

Bản cáo trạng số: 500/CT-VKSML ngày 30 tháng 10 năm 2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện ML, tỉnh SL truy tố các bị cáo: Nguyễn Tiến M, Trần M H, Hoàng Vũ Mạnh H, Lê Quang T và Bùi M H về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Tiến M, Trần M H, Hoàng Vũ Mạnh H, Lê Quang T và Bùi M H phạm tội “Đánh bạc”; Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt tiền các bị cáo sung vào ngân sách Nhà nước:

Nguyễn Tiến M 25.000.000, đồng đến 30.000.000, đồng;

Trần M H 20.000.000, đồng đến 25.000.000, đồng;

Hoàng Vũ Mạnh H 20.000.000, đồng đến 25.000.000, đồng;

Lê Quang T 20.000.000, đồng đến 25.000.000, đồng;

Bùi M H 20.000.000, đồng đến 25.000.000, đồng.

Vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: Số tiền 10.000.000, đồng của các bị cáo do dùng việc phạm tội.

Tịch thu tiêu hủy: 36 quân bài tú lơ khơ từ át đến 9, mặt sau quân bài đều màu đỏ; 01 phong bì màu trắng viền xanh đỏ bị cắt góc.

Các bị cáo pH chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên Quyết định truy tố. Các bị cáo nhất trí với Quyết định truy tố của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của các bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện ML, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện ML, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Tại phiên toà các bị cáo Nguyễn Tiến M, Trần M H, Hoàng Vũ Mạnh H, Lê Quang T và Bùi M H đều thừa nhận: Ngày 11/8/2018 đã thực hiện hành vi đánh bạc với hình thức chơi “ba cây” được thua bằng tiền có giá trị 10.000.000, đồng.

Xét lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với các chứng cứ đã được thu thập: Biên bản bắt giữ người phạm tội quả tang; Lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, vật chứng của vụ án.

Từ các căn cứ trên có đủ cơ sở kết luận: Hành vi đánh bạc với hình thức chơi “ba cây” được thua bằng tiền có giá trị 10.000.000, đồng của các bị cáo Nguyễn Tiến M, Trần M H, Hoàng Vũ Mạnh H, Lê Quang T và Bùi M H đã phạm tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt Bổ sung - Phạt tiền đối với bị cáo.

Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, do đó các bị cáo pH hoàn toàn chịu trách nhiệm về toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, điểm s “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Gia đình đều có đơn bảo lãnh giảm nhẹ cho các bị cáo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Các bị cáo đều có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện các nghĩa vụ công dân, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú cụ thể rõ ràng; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 điều 51 của Bộ luật Hình sự. Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Từ các căn cứ trên xét thấy các bị cáo đều có đủ điều kiện hưởng mức hình phạt tiền.

Xét về vai trò đồng phạm: Bị cáo Nguyễn Tiến M với vai trò khởi xướng rủ rê các bị cáo khác. Các bị cáo Trần M H, Hoàng Vũ Mạnh H, Lê Quang T và Bùi M H với vai trò cùng thực hiện tội phạm. Các bị cáo đồng phạm giản đơn. Cần căn cứ Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự để xem xét lên mức hình phạt cho các bị cáo.

. Vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: Số tiền 10.000.000, đồng của các bị cáo do dùng việc phạm tội.

Tịch thu tiêu hủy: 36 quân bài tú lơ khơ từ át đến 9; 01 phong bì màu trắng viền xanh đỏ bị cắt góc.

Các bị cáo pH chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Tiến M, Trần M H, Hoàng Vũ Mạnh H, Lê Quang T và Bùi M H phạm tội: “Đánh bạc”.

Xử phạt tiền các bị cáo sung vào ngân sách Nhà nước:

Nguyễn Tiến M 23.000.000, đồng (hai mươi ba triệu đồng);

Trần M H 20.000.000, đồng (hai mươi triệu đồng);

Hoàng Vũ Mạnh H 20.000.000, đồng (hai mươi triệu đồng);

Lê Quang T 20.000.000, đồng (hai mươi triệu đồng);

Bùi M H 20.000.000, đồng (hai mươi triệu đồng).

2. Vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; điểm b, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: Số tiền 10.000.000, đồng (mười triệu đồng) của các bị cáo do dùng việc phạm tội.

Tịch thu tiêu hủy: 36 quân bài tú lơ khơ từ át đến 9; 01 phong bì màu trắng viền xanh đỏ, bị cắt góc (đều được niêm phong).Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/11/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện ML, tỉnh SL.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về Án phí, Lệ phí Tòa án.

Buộc Nguyễn Tiến M, Trần M H, Hoàng Vũ Mạnh H, Lê Quang T và Bùi M H mỗi bị cáo pH chịu 200.000, đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 14/11/2018.

Cỡ chữ