vanban.org

Bản án 89/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Không công nhận bà Trần Thị B và ông Tô Văn Đ là vợ chồng.

Về con chung, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau: Ông Tô Văn Đ chịu trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng một người con chung tên là Tô Linh T (giới tính nam), sinh ngày 14 tháng 6 năm 2003. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Tô Văn Đ không yêu cầu bà Trần Thị B cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn và tranh chấp nuôi con"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Không công nhận bà Trần Thị B và ông Tô Văn Đ là vợ chồng.
  • Căn cứ chính? Điều 14 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHÚ TÂN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH CÀ MAU
—————
Bản án số: 89/2018/HNGĐ-ST
Ngày 14-9-2018
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Phương

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Minh Trọn.

Bà Trần Thị Hoài Yên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Hồng Huệ là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

Ngày 14 tháng 9 năm 2018 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 227/2018/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 8 năm 2018 về ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 147/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 9 năm 2018, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Trần Thị B, sinh năm 1976 (Có mặt).

- Bị đơn: Ông Tô Văn Đ, sinh năm 1965 (Có mặt).

Cùng cư trú: Ấp Đ, xã P, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 15 tháng 8 năm 2018 và tại phiên tòa, bà Trần Thị B trình bày: Vào năm 1995 bà và ông Tô Văn Đ chung sống với nhau như vợ chồng, đến nay không đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống xảy ra mâu thuẫn do không hòa hợp và thường xuyên xảy ra tranh cãi. Xét thấy hôn nhân không còn hạnh phúc nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Tô Văn Đ. Về con chung, có hai người tên là Tô Chí L (giới tính nam), sinh năm 1996 và Tô Linh T (giới tính nam), sinh ngày 14 tháng 6 năm 2003. Đối với Tô Chí L đã thành niên và có khả năng lao động nên bà không yêu cầu giải quyết. Riêng Tô Linh T hiện ông Tô Văn Đ đang nuôi dưỡng nên bà yêu cầu giao cho ông Tô Văn Đ tiếp tục nuôi, bà không cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, bị đơn ông Tô Văn Đ trình bày: Về thời gian kết hôn, không có đăng ký kết hôn, mâu thuẫn xảy ra đúng như bà Trần Thị B đã khai. Nay cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, không thể hàn gắn được nên ông đồng ý ly hôn với bà Trần Thị B. Về con chung có hai người đúng như bà Trần Thị B đã trình bày. Nay ông chấp nhận nuôi dưỡng con chung là Tô Linh T và ông không yêu cầu bà Trần Thị B cấp dưỡng nuôi con. Tài sản chung và nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Việc bà Trần Thị B xin ly hôn ông Tô Văn Đ là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Xét về hôn nhân, bà Trần Thị B và ông Tô Văn Đ sống chung với nhau như vợ chồng từ năm 1995 đến nay vẫn chưa đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, nên hôn nhân giữa bà Trần Thị B và ông Tô Văn Đ vi phạm quy định về đăng ký kết hôn. Do đó, căn cứ vào quy định tại Điều 9, 14, 53 của Luật hôn nhân và gia đình thì hôn nhân giữa bà Trần Thị B và ông Tô Văn Đ không được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Bà Trần Thị B và ông Tô Văn Đ không được công nhận là vợ chồng.

Về con chung có hai người tên là Tô Chí L (giới tính nam), sinh năm 1996 và Tô Linh T (giới tính nam), sinh ngày 14 tháng 6 năm 2003. Đối với Tô Chí L đã thành niên và có khả năng lao động sinh sống nên không đặt ra xem xét. Đối với Tô Linh T, bà Trần Thị B và ông Tô Văn Đ thống nhất thỏa thuận giao cho ông Tô Văn Đ tiếp tục nuôi và bà Trần Thị B không cấp dưỡng nuôi con. Sự thỏa thuận về người nuôi con và không cấp dưỡng nuôi con giữa bà Trần Thị B và ông Tô Văn Đ là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với nguyện vọng của con chưa thành niên, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội và đúng theo quy định tại các điều 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình. Từ đó, công nhận sự thỏa thuận về người nuôi con và không cấp dưỡng nuôi con giữa bà Trần Thị B và ông Tô Văn Đ là có căn cứ.

Bà Trần Thị B và ông Tô Văn Đ xác định tài sản chung và nợ chung không có nên không đặt ra xem xét.

Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, bà Trần Thị B chịu theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Áp dụng các điều 9, 14, 53, 81, 82 và 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

1. Tuyên bố: Không công nhận bà Trần Thị B và ông Tô Văn Đ là vợ chồng.

2. Về con chung, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:

Ông Tô Văn Đ chịu trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng một người con chung tên là Tô Linh T (giới tính nam), sinh ngày 14 tháng 6 năm 2003. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Tô Văn Đ không yêu cầu bà Trần Thị B cấp dưỡng nuôi con.

Bà Trần Thị B có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, bà Trần Thị B phải chịu 300.000 đồng, nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0007219, ngày 16 tháng 8 năm 2018 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, bà Trần Thị B đã nộp đủ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bà Trần Thị B và ông Tô Văn Đ có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ