vanban.org

Bản án 89/2017/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị P.

Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị P được ly hôn với anh Lê Văn H. Về quan hệ con chung: có 02 con chung tên Lê Hoài T, sinh ngày 28/12/1999 và Lê Hoài N, sinh ngày 23/3/2001. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình - ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị P.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 58 Luật Hôn nhân và gia đình
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THOẠI SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 89/2017/HNGĐ-ST
Ngày: 18/9/2017
V/v “tranh chấp về Hôn nhân và
gia đình - ly hôn”

-

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Th TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG àn h phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Hân Em

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thành Phước.

2. Ông Phạm Quốc Hùng.

- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Huỳnh Hoa Lý - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: không tham gia.

Trong ngày 18 tháng 9 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 194/2017/TLST-HNGĐ ngày 06/6/2017 về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình - ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 288/2017/QĐXX-HNGĐ ngày 28/8/2017, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị P, sinh năm 1983 (có mặt).

Địa chỉ: ấp Trung Bình, xã Thoại Giang, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

2. Bị đơn: anh Lê Văn H, sinh năm 1983 (vắng mặt).

Địa chỉ: ấp Trung Bình, xã Thoại Giang, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn chị Nguyễn Thị P trình bày: tôi với anh Lê Văn H chung sống với nhau vào năm 1998, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã Thoại Giang, huyện Thoại Sơn ngày 18/02/2014. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng đến tháng 02 năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh H thường uống rượu, không lo làm ăn, không quan tâm đến vợ, con. Vì muốn lo cho tương lai của 02 con, nên tôi cố gắng chịu đựng và khuyên ngăn để anh H thay đổi nhưng anh vẫn vậy. Đến tháng 6 năm 2017, mâu thuẫn vợ chồng càng trầm trọng thêm, nên tôi với anh H đã ly thân từ thời gian đó cho đến nay.

Thời gian chung sống, tôi với anh H có 02 con chung tên Lê Hoài T, sinh ngày 28/12/1999 và Lê Hoài N, sinh ngày 23/3/2001. Hiện tại cháu T đang sống chung với tôi, còn cháu N sống chung với anh H. Sau khi ly hôn, tôi yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu T và đồng ý giao cháu N cho anh H tiếp tục nuôi dưỡng. Tôi và anh H không ai phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: không có.

Về phía bị đơn anh Lê Văn H: trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ anh H nhưng anh H đều vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: đây là tranh chấp về Hôn nhân và gia đình - ly hôn, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Lê Văn H có địa chỉ tại ấp Trung Bình, xã Thoại Giang, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ anh Lê Văn H để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; đồng thời tham dự phiên tòa. Tuy nhiên, anh H vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Do vậy, căn cứ vào khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt anh H.

Về nội dung: chị Nguyễn Thị P với anh Lê Văn H chung sống với nhau từ năm 1998, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, được Ủy ban nhân dân xã Thoại Giang, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang cấp Giấy chứng nhận kết hôn số: 21, quyển số 01/2014, ngày 18/02/2014. Vì vậy, đây là hôn nhân hợp pháp phù hợp với quy định tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Xét, yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị P: chị P với anh H chung sống với nhau hạnh phúc thời gian đầu. Đến tháng 02 năm 2017, xảy ra mâu thuẫn, do anh H không lo làm ăn, không quan tâm đến vợ, con nên chị P với anh H thường xuyên cự cãi nhau và đã sống ly thân từ tháng 6 năm 2017 cho đến nay. Về phía anh H, kể từ khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh H, tạo điều kiện cho anh hàn gắn tình cảm vợ chồng với chị P. Tuy nhiên, anh H không đến tham gia phiên hòa giải và cũng không có văn bản nào thể hiện nguyện vọng muốn được hàn gắn quan hệ hôn nhân với chị P. Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị P với anh H mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, có đủ căn cứ để áp dụng Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị P.

Về quan hệ con chung: chị P với anh H có 02 con chung tên Lê Hoài T và Lê Hoài N. Chị P có nguyện vọng nuôi cháu T và đồng ý giao cháu N cho anh H nuôi dưỡng và không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy, việc giao con cho ai nuôi cần xem xét quyền lợi về mọi mặt của các con chưa thành niên. Cháu T đang sống chung với chị P; cháu N đang sống chung với anh H. Đồng thời, tại biên bản lấy lời khai ngày 16/6/2017 thì nguyện vọng của cháu T muốn được ở mẹ; nguyện vọng cháu N muốn được ở với ba. Do vậy, để tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển bình thường về thể chất và tinh thần của các cháu, nên căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, cần giao cháu T cho chị P nuôi dưỡng và giao cháu N cho anh H nuôi dưỡng. Chị P và anh H không phải cấp dưỡng nuôi con nhưng có quyền thăm nom con mà không ai được cản trở. Vì lợi ích của con, khi cần thiết thì các bên có quyền yêu cầu thay đổi người nuôi con hay mức cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

Về tài sản chung và nợ chung: không có.

Do chị Nguyễn Thị P yêu cầu giải quyết ly hôn nên phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 56, Điều 58 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị P.

- Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị P được ly hôn với anh Lê Văn H.

- Về quan hệ con chung: có 02 con chung tên Lê Hoài T, sinh ngày 28/12/1999 và Lê Hoài N, sinh ngày 23/3/2001.

+ Giao cháu Lê Hoài T cho chị Nguyễn Thị P tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục (cháu T đang sống chung với chị P). Giao cháu Lê Hoài N cho anh Lê Văn H tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục (cháu N đang sống chung với anh H).

+ Chị P và anh H không phải cấp dưỡng nuôi con. Chị P và anh H có quyền thăm nom con mà không ai được cản trở.

- Về quan hệ tài sản chung: không có.

- Về nợ chung: ghi nhận chị Nguyễn Thị P xác định không có nợ chung, nhưng sau khi bản án này có hiệu lực pháp luật, nếu có nguyên đơn khởi kiện xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì chị P và anh H vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.

- Về án phí dân sự sơ thẩm: chị Nguyễn Thị P phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0003278 ngày 06/6/2017 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ