- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Thị Ngọc Trúc.
- Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 887/2024/HNGĐ-ST Ngày: 27/9/2024 V/v: Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Tuyết
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phan Hoàng Nam
2. Bà Phan Thị Dòn
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Tâm – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Thuận– Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xét xử sơ thẩm công khai Vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 563/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2024 về “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 802/2024/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 671/2024/QĐST-HNGĐ ngày 04 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Thị Ngọc T, sinh năm 1999; địa chỉ: xã L, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Công T1, sinh năm 1986; địa chỉ: xã L, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện ngày 09/5/2024, các bản tự khai và biên bản không tiến hành hòa giải được, nguyên đơn bà Thị Ngọc T trình bày như sau:
Bà Thị Ngọc Tvà ông Nguyễn Công T1 chung sống với nhau vào năm 2017 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 94/2017 ngày 29/12/2017 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu. Trong thời gian chung sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, thường hay cãi vã, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tình không hợp, không quan tâm, chia sẻ lẫn nhau, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Ông T1 không lo cho gia đình vợ con, thường xuyên tụ tập bạn bè ăn chơi, kinh tế gia đình do một mình bà T lo lắng. Vợ chồng đã sống ly thân 04 năm nay, không còn liên hệ về tình cảm và kinh tế, trong thời gian ly thân bà T dọn về ở với cha mẹ ruột thì ông T1 cũng không cấp dưỡng cho con. Nay bà T nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông Nguyễn Công T1 để ổn định cuộc sống và rõ ràng về mặt pháp lý.
Về con chung: Có 01 con chung tên là Nguyễn Ngọc Khả H, sinh ngày 13/5/2018. Bà Thị Ngọc T yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngày 06/8/2024, nguyên đơn bà Thị Ngọc T có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt.
2. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Công T1 đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không đến Tòa án để giải quyết vụ án và cũng không có ý kiến phản hồi.
3. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật; nguyên đơn chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự; bị đơn không chấp hành nhưng đã được Tòa án tống đạt hợp lệ, quyền và lợi ích hợp pháp được đảm bảo. Vụ án được đưa ra xét xử đảm bảo về thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định khoản 1 Điều 203 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà Thị Ngọc T được ly hôn với ông Nguyễn Công T1. Giao con chung là Nguyễn Ngọc Khả H, sinh ngày 13/5/2018 cho bà Ttrực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của bà T không yêu cầu ông T1 thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Bà Bà Thị Ngọc T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Bà Thị Ngọc Tvà ông Nguyễn Công T1 chung sống trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, đây là hôn nhân hợp pháp. Nay bà Tkhởi kiện yêu cầu ly hôn với ông T1, bị đơn cư trú tại huyện Bình Chánh nên tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Bình Chánh theo quy định tại
- 2 -
khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
2. Về việc xét xử vắng mặt đương sự:
- Về việc xét xử vắng mặt nguyên đơn: Ngày 06/8/2024, nguyên đơn bà Thị Ngọc T có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Xét thấy yêu cầu vắng mặt của nguyên đơn là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về việc xét xử vắng mặt bị đơn: Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt và niêm yết các văn bản tố tụng đúng quy định, nhưng ông Nguyễn Công T1 không đến Tòa án trong cả hai lần được Tòa án triệu tập mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và hai lần Tòa án mở phiên tòa xét xử. Do vậy việc xét xử vắng mặt ông Nguyễn Công T1 là phù hợp với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
3. Về yêu cầu của đương sự:
a) Về quan hệ hôn nhân:
Trong thời gian chung sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, thường hay cãi vã, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tình không hợp, không quan tâm, chia sẻ lẫn nhau, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Ông T1 không lo cho gia đình vợ con, thường xuyên tụ tập bạn bè ăn chơi, kinh tế gia đình do một mình bà Tlo lắng. Vợ chồng đã sống ly thân 04 năm nay, không còn liên hệ về tình cảm và kinh tế, trong thời gian ly thân bà Tdọn về ở với cha mẹ ruột thì ông T1 cũng không cấp dưỡng cho con.
Theo kết quả xác minh của Công an xã Lê Minh Xuân, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh: “Công dân Nguyễn Công T1, sinh năm 1986 đang thực tế cư trú nhà trọ địa xã L, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh”. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành mời các bên đến để hòa giải hàn gắn gia đình theo quy định; tuy nhiên, ông T1 không đến Tòa án là không có thiện chí đoàn tụ, xây dựng hạnh phúc gia đình, cũng như không có ý kiến phản hồi phản bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được…”.
Đối chiếu nội dung sự việc với các quy định của pháp luật thì việc bà Tyêu cầu ly hôn với ông T1 là có đủ cơ sở. Do vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Trúc.
- 3 -
b) Về con chung: Có 01 con chung tên là Nguyễn Ngọc Khả Hân, sinh ngày 13/5/2018. Bà Thi Ngọc Tyêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con.
Căn cứ vào kết quả xác minh của Ủy ban nhân dân xã Lê Minh Xuân: “Nguyên nhân mâu thuẫn giữa bà Thị Ngọc Tvà ông Nguyễn Công T1 không rõ. Trẻ Nguyễn Ngọc Khả Hân hiện đang chung sống với bà Thị Ngọc T tại xã Lê Minh Xuân, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh”.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng thoả thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; T1 hợp không thoả thuận được thì Toà án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.
Tòa án đã lập biên bản ghi nhận ý kiến của bà T về việc nuôi con cũng như tại bản tự khai, bà T cho biết hiện tại đang làm công việc ở sân bay với thu nhập ổn định 13.000.000 đồng/tháng. Do đó bà T có khả năng nuôi dưỡng con cũng như tạo được điều kiện tốt nhất cho việc học hành của trẻ. Mặt khác từ nhỏ cho tới nay trẻ Hân đều sống chung với bà T và do bà T trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng, ông T1 không chăm lo gì cho con. Khoảng thời gian vợ chồng sống ly thân cho đến nay ông T1 cũng không cấp dưỡng tiền để nuôi con vì ông T1 cũng không có công việc ổn định. Toà án đã tống đạt hợp lệ cho ông T1 Thông báo thụ lý vụ án và Thông báo kết quả phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, trong đó nêu rõ nội dung bà T yêu cầu nuôi dưỡng các con chung và không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên ông Phong không đến Toà án để làm việc và không có ý kiến phản hồi đối với yêu cầu trên.
Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà T về việc nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con.
c) Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
4. Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh: Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà Thị Ngọc T được ly hôn với ông Nguyễn Công T1. Giao con chung là Nguyễn Ngọc Khả H, sinh ngày 13/5/2018 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của bà T không yêu cầu ông T1 thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Bà Thị Ngọc T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật. Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
5. Về án phí: Bà Thị Ngọc T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
- 4 -
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 203, Điều 220, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 278 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Thị Ngọc Trúc.
1.1 Về quan hệ hôn nhân: Bà Thị Ngọc T được ly hôn với ông Nguyễn Công T1.
Giấy chứng nhận kết hôn số 94/2017 ngày 29/12/2017 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu cấp không còn giá trị pháp lý.
1.2 Về con chung:
Giao con chung Nguyễn Ngọc Khả H, sinh ngày 13/5/2018 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng, ghi nhận sự tự nguyện của bà T không yêu cầu ông T1 thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Ông Nguyễn Công T1 không trực tiếp nuôi con, được quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Không ai được cản trở ông T1 thực hiện quyền này.
Vì quyền lợi của trẻ chưa thành niên, trong T1 hợp có yêu cầu của cha, mẹ, cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể xem xét quyết định việc hạn chế quyền thăm nom con, thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con mà lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
1.3 Về tài sản chung, nợ chung: Đương sự xác định vợ chồng không có tài sản chung, nợ chung.
2. Về án phí: Bà Thị Ngọc T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án ký hiệu BLTU/23P số 0004272 ngày 01/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà T đã nộp đủ án phí.
- 5 -
3. Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a và 9 của Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014). Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND huyện Bình Chánh; - Chi cục THADS huyện Bình Chánh; - UBND phường nơi đăng ký kết hôn; - Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án (12). | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Tuyết - 6 - |