vanban.org

Bản án 886/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị V được ly hôn với ông Nguyễn Đăng H (Giấy chứng nhận kết hôn số 170, Quyển số 1/2000 do Ủy ban nhân dân Phường Đ, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 22/9/2000).

Về con chung: Bà V và ông H có 02 con chung tên Nguyễn Thị Hồng N, sinh ngày 26/01/2001 và Nguyễn Ngọc Thùy Tr, sinh ngày 20/6/2003. Các con chung đã thành niên. Về tài sản chung và nợ chung: Bà V xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét. 2. Về án phí dân sự sơ thẩm: 300… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị V - Nguyễn Đăng H"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị V được ly hôn với ông Nguyễn Đăng H (Giấy chứng nhận kết hôn số 170, Quyển số 1/2000 do Ủy ban nhân dân Phường Đ, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 22/9/2000).
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 21 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 886/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 08/9/2023
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Doãn Thị Nga

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Bà Thái Thục Hiền

2/ Ông Đoàn Văn Rỹ

- Thư ký phiên tòa: Bà Hứa Hồng Đào – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phan Xuân Hiền – Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 564/2023/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2023 về “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 203/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 157/2023/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:

1.Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1973

Địa chỉ: số 909E/6A TQB, Phường Đ, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Đăng H, sinh năm 1966

Địa chỉ: số 909E/6A TQB, Phường Đ, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo Đơn khởi kiện đề ngày 12/5/2023 và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn – bà Nguyễn Thị V trình bày: Bà và ông Nguyễn Đăng H chung sống có đăng ký kết hôn vào năm 2000 tại Ủy ban nhân dân Phường Đ, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 170, quyển số 1/2000 ngày 22/9/2000. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do hai bên bất đồng quan điểm, không hợp nhau về tính tình, hay cãi vã. Khi xảy ra mâu thuẫn thì nợ chồng đều cố gắng chịu đựng, nhường nhịn nhau để cùng chăm sóc con. Tuy nhiên, mâu thuẫn không giải quyết được mà ngày càng trầm trọng. Sau đó, ông H bỏ đi khỏi địa phương từ năm 2019 đến nay không có tin tức gì. Bà V đã nộp đơn yêu cầu và được Tòa án nhân dân Quận 8 giải quyết tuyên bố ông H mất tích tại Quyết định số 78/2023/QĐDS-ST ngày 05/4/2023. Nay, bà V xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông H, đồng thời để bổ túc hồ sơ hành chính khi cần thiết nên bà V đề nghị Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông H. Về con chung: Bà và ông H có 02 con chung tên Nguyễn Thị Hồng N, sinh ngày 26/01/2001 và Nguyễn Ngọc Thùy Tr, sinh ngày 20/6/2003. Hiện nay, các con chung đã thành niên. Về tài sản chung và nợ chung: Trong thời gian chung sống bà và ông H không có tài sản chung và không có nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. * Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ bị đơn đến Tòa án để tự khai, hòa giải và tham gia phiên tòa nhưng ông Nguyễn Đăng H không đến Tòa án theo giấy triệu tập và cũng không có bất kỳ văn bản nào phản hồi yêu cầu khởi kiện của bà V nên Tòa án không thể thu thập được lời khai của ông H. Tại phiên tòa, Nguyên đơn - bà Nguyễn Thị V có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa Bị đơn – ông Nguyễn Đăng H vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 8 phát biểu quan điểm tại phiên tòa: Việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015 về xét xử sơ thẩm vụ án. Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định pháp luật. Riêng bị đơn không chấp hành đúng quy định tại Điều 72 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Về nội dung vụ án: Bị đơn đã bị Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tuyên bố mất tích tại Quyết định số 78/2023/QĐDS-ST ngày 05/4/2023 nên chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn theo quy định tại các Điều 56, 57 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Bà Nguyễn Thị V và ông Nguyễn Đăng H có đăng ký kết hôn, bà V yêu cầu ly hôn với ông H, xác định đây là vụ án hôn nhân và gia đình về “tranh chấp ly hôn”.

Bị đơn có nơi cư trú cuối cùng tại Quận 8 (theo kết quả xác minh của Công an Phường Đ, Quận H) nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Về thủ tục tố tụng:

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị V có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt bà V.

Bị đơn ông Nguyễn Đăng H, Tòa án đã triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai nhưng ông H vắng mặt không lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt ông H.

Về yêu cầu của các đương sự:

- Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ theo Giấy chứng nhận kết hôn số 170, Quyển số 1/2000 do Ủy ban nhân dân Phường Đ, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 22/9/2000, cùng lời khai của bà V về việc các đương sự tự nguyện kết hôn với nhau, nên đủ cơ sở xác định hôn nhân giữa bà V và ông H là hôn nhân hợp pháp.

Xét yêu cầu xin ly hôn của bà V: Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Vào khoảng năm 2019 ông H bỏ nhà đi khỏi địa phương đến nay không có tin tức gì, bà V cũng đã yêu cầu Tòa án tuyên bố ông H mất tích. Nay, bà V xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông H, đồng thời để bổ túc hồ sơ hành chính khi cần thiết nên bà V đề nghị Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông H.

Hội đồng xét xử xét thấy, ông Nguyễn Đăng H đã bị Tòa án nhân dân Quận 8 tuyên bố mất tích tại Quyết định số 778/2023/QĐDS-ST ngày 05/4/2023. Mặt khác, trong quá trình giải quyết vụ án ly hôn này Tòa án cũng đã tiến hành xác minh lại và làm thủ tục niêm yết triệu tập hợp lệ ông H đến Tòa trình bày ý kiến tự khai, tổ chức phiên hòa giải để các bên có điều kiện hàn gắn đoàn tụ gia đình. Tuy nhiên, đến nay ông H không trở về địa phương và cũng không đến Tòa án theo giấy triệu tập mà không rõ lý do. Do đó, yêu cầu xin ly hôn của bà V cũng như đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015, khoản 2 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 nên được chấp nhận.

- Về con chung: Bà và ông H có 02 con chung tên Nguyễn Thị Hồng N, sinh ngày 26/01/2001 và Nguyễn Ngọc Thùy Tr, sinh ngày 20/6/2003. Hiện nay, các con chung đã thành niên nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà V xác định bà và ông H không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét. [4] Về án phí dân sự sơ thẩm: 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) bà V phải chịu theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về án phí, lệ phí Tòa án). Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Khoản 2 Điều 21, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

- Khoản 2 Điều 68 Bộ luật Dân sự năm 2015;

- Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 về án phí, lệ phí Tòa án. Tuyên xử: 1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị V về việc xin ly hôn với ông Nguyễn Đăng H.

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị V được ly hôn với ông Nguyễn Đăng H (Giấy chứng nhận kết hôn số 170, Quyển số 1/2000 do Ủy ban nhân dân Phường Đ, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 22/9/2000).

- Về con chung: Bà V và ông H có 02 con chung tên Nguyễn Thị Hồng N, sinh ngày 26/01/2001 và Nguyễn Ngọc Thùy Tr, sinh ngày 20/6/2003. Các con chung đã thành niên.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà V xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét. 2. Về án phí dân sự sơ thẩm: 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) bà Nguyễn Thị V phải chịu, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà V đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0035850 ngày 29/5/2023 của Chi cục thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà V đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm. Thi hành tại cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.

3. Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị V, ông Nguyễn Đăng H được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ