vanban.org

Bản án 886/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Về quan hệ hôn nhân:

Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Chí T là được ly hôn với bà Nguyễn Thị Bích P. Giấy chứng nhận kết hôn số 30/2016 do Ủy ban nhân dân xã H, huyện X, tỉnh Long An cấp ngày 06/6/2016 không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "TRANH CHẤP LY HÔN"
  • Tòa quyết gì? [1] Về quan hệ hôn nhân:
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỦ CHI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 886/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 17-7-2023
V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Thủy.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Huỳnh Văn Bé;

2. Ông Nguyễn Ngọc Cảnh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Văn Bé - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Không có.

Ngày 17 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 243/2023/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2023 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 245/2023/QĐXX-ST ngày 02 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 185/2023/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 6 năm 2023 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Chí T, sinh năm 1995 (có mặt).

Thường trú: Ấp G, xã H, huyện X, tỉnh Long An.

Tạm trú: 205 đường số 15, khu dân cư ấp 5, xã B, huyện A, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Bích P, sinh năm 1997 (vắng mặt).

Địa chỉ: Số 16 Lê Thị K, ấp L, xã D, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn xin ly hôn ngày 14/02/2023 và các lời khai tại Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, nguyên đơn ông Nguyễn Chí T trình bày:

Ông và bà Nguyễn Thị Bích P tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 30/2016 do Ủy ban nhân dân xã H, huyện X, tỉnh Long An cấp ngày 06/6/2016. Thời gian đầu vợ chồng ông chung sống hạnh phúc về sau thì phát sinh mâu thuẫn. Vợ chồng ông thường cãi nhau, bất đồng quan điểm sống, tính tình ngày càng không hợp làm cho gia đình không còn hạnh phúc, cuộc sống hôn nhân áp lực và mệt mỏi. Ông đi làm xa, vợ chồng ít gặp mặt, ít nói chuyện. Vợ chồng ông ly thân từ năm 2018. Từ đó đến nay, vợ chồng ông chỉ nói chuyện về con cái. Nay nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, ông yêu cầu ly hôn với bà Nguyễn Thị Bích P.

Về con chung: Có 01 (một) con chung tên Nguyễn Ngọc Bảo E, sinh ngày 10/9/2016. Nguyễn Ngọc Bảo E hiện đang sống c ng bà P. Ông T đồng ý giao con chung cho bà P trực tiếp nuôi dưỡng. Ông T không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có.

Về nghĩa vụ dân sự chung: Không có.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Bích P vắng mặt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Ông Nguyễn Chí T yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Củ Chi giải quyết cho ông ly hôn với bà Nguyễn Thị Bích P hiện đang cư trú tại số 16 Lê Thị K, ấp L, xã D, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về thủ tục tố tụng:

Bà Nguyễn Thị Bích P đã được Tòa án tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng bà P vẫn vắng mặt không lý do. Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà P theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân:

Ông Nguyễn Chí T và bà Nguyễn Thị Bích P tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 30/2016 do Ủy ban nhân dân xã H, huyện X, tỉnh Long An cấp ngày 06/6/2016.

Xét lời trình bày của ông T thì sau kết hôn giữa ông và bà P đã có nhiều khác biệt về cách sống và quan điểm sống. Thời gian đầu vợ chồng ông chung sống hạnh phúc về sau thì phát sinh mâu thuẫn. Vợ chồng ông thường cãi nhau, bất đồng quan điểm sống. Mâu thuẫn kéo dài và ngày càng trầm trọng. Vợ chồng ông đã không thể tìm được tiếng nói chung khiến cho cuộc sống hôn nhân áp lực và mệt mỏi. Vợ chồng ông ly thân từ năm 2018. Từ đó đến nay, vợ chồng ông chỉ nói chuyện về con cái. Hai bên không còn quan tâm, chăm sóc, yêu thương nhau. Ông xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông ly hôn với bà Nguyễn Thị Bích P.

Bà P đã được Tòa án triệu tập nhưng bà không đến tòa. Bà P cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến, không có bất cứ tác động nào cho thấy muốn hàn gắn quan hệ vợ chồng, không có giải pháp đoàn tụ. Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa ông T và bà P đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình nghĩ nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông T đối với bà P là có cơ sở.

Về con chung:

Ông T và bà P có 01 (một) con chung tên Nguyễn Ngọc Bảo E, sinh ngày 10/9/2016. Ông T đồng ý giao con chung cho bà P trực tiếp nuôi dưỡng, ông không cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy bà P đang trực tiếp chăm sóc và sống ổn định với trẻ T. Để ổn định tâm lý cho trẻ, căn cứ Điều 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình nghĩ nên giao con chung Nguyễn Ngọc Bảo E cho bà Nguyễn Thị Bích P nuôi dưỡng là ph hợp.

Đối với việc cấp dưỡng nuôi con, bà P không có văn bản trình bày ý kiến nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Ông T trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nghĩa vụ dân sự chung: Ông T trình bày không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Bà Nguyễn Thị Bích P vắng mặt tại phiên tòa. Nếu bà P có tranh chấp về cấp dưỡng, tài sản chung và nghĩa vụ dân sự chung thì sẽ giải quyết ở vụ án khác.

Về nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm:

Căn cứ Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, ông Nguyễn Chí T phải chịu án phí sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 9, Điều 51, Điều 53, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1] Về quan hệ hôn nhân:

Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Chí T là được ly hôn với bà Nguyễn Thị Bích P.

Giấy chứng nhận kết hôn số 30/2016 do Ủy ban nhân dân xã H, huyện X, tỉnh Long An cấp ngày 06/6/2016 không còn giá trị pháp lý.

[2] Về con chung:

Giao trẻ Nguyễn Ngọc Bảo E, sinh ngày 10/9/2016 cho bà Nguyễn Thị Bích P trực tiếp nuôi dưỡng. Ông T tạm thời không cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con c ng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc cấp dưỡng nuôi con theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức có quyền yêu cầu theo quy định tại Điều 84, Điều 119 Luật Hôn nhân và gia đình.

[3] Về tài sản chung: Không có.

[4] Về nghĩa vụ dân sự chung: Không có.

[5] Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn 300.000 (ba trăm nghìn) đồng ông Nguyễn Chí T phải chịu, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền số AA/2022/0001135 ngày 14/3/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi.

[6] Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ