vanban.org

Bản án 882/2023/QĐST-DS — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

TAND Q. Bình Thạnh, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 23/05/2023 Dân sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn- Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nam Á.

Buộc bị đơn – ông Nguyễn H phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nam Á số tiền nợ lãi tính đến ngày 23/5/2023 phát sinh từ Hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng sử dụng thẻ số 0324/2016/902 ngày 28/6/2016 tổng cộng là 58.655.723đồng (Năm mươi tám triệu sáu trăm năm mươi lăm ngàn bảy trăm hai mươi ba đ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn- Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nam Á.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng Dân sự đây
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN B
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 882/2023/QĐST-DS
Ngày: 23-5-2023
V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN B THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Nguyệt

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Nhơn

2. Bà Nguyễn Thị Bính Thân

Thư ký phiên toà:

Bà Nguyễn Thị Ngoan - Thư ký Toà án nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B tham gia phiên toà:

Bà Nguyễn Thị Minh Hền - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 5 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân quận B, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai đối với vụ án dân sự thụ lý số 1098/2022/TLST-DS ngày 31/5/2022 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 145/2023/QĐXXST-DS ngày 12/4/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 110/QĐST-DS ngày 04/5/2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nam Á

Trụ sở: số 201-203 Cách Mạng Tháng Tám, Phường 4, Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Khánh Hà (Giấy ủy quyền số 715A/2022/UQ-AMC ngày 15/7/2022)(có mặt)

Bị đơn : Ông Nguyễn H, sinh năm 1985 (vắng mặt)

Địa chỉ: số 290/56/13/20D1 Nơ Trang Long, Phường 12, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 29/4/2022, tại bản tự khai và các biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hoà giải, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Ký kết hợp đồng:

Ngày 28/6/2016, Ngân hàng TMCP Nam Á và ông Nguyễn H có ký kết Hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng sử dụng thẻ số 0324/2016/902 (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm phương án vay vốn, hợp đồng tín dụng và hợp đồng sử dụng thẻ và bản điều khoản, điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP Nam Á). Căn cứ vào thu nhập của ông H, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng cho ông H sử dụng với hạn mức sử dụng là 30.000.000đ (Ba mươi triệu đồng), mục đích tiêu dùng cá nhân.

Thực hiện hợp đồng:

Sau khi được Ngân hàng cấp thẻ tín dụng, ông H đã sử dụng thẻ để thực hiện các giao dịch. Do ông H thường xuyên không thanh toán đúng hạn theo thỏa thuận trong hợp đồng nên ông H còn phải toán các khoản phí chậm thanh toán, lãi trong hạn, lãi quá hạn và phí. Từ tháng 02/2017 cho đến ngày 22/5/2023 ông H không thanh toán bất kỳ khoản tiền nào cho Ngân hàng. Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở và tạo điều kiện cho ông H trả nợ nhưng ông H vẫn không có thiện chí trả nợ nên tháng 6/2017 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và cHển toàn bộ số dư nợ của ông H sang nợ quá hạn. Ngày 23/5/2023, ông H đã thanh toán cho ngân hàng số tiền nợ gốc là 29.800.000đồng.

Tính đến ngày 23/5/2023, ông H còn nợ Ngân hàng các khoản sau:

-

Lãi trong hạn

2.520.523 đồng

-

Lãi quá hạn

56.135.200 đồng

Tổng cộng:

58.655.723 đồng

Yêu cầu đòi nợ:

Nay Ngân hàng khởi kiện, yêu cầu Tòa án buộc phía bị đơn phải thanh toán toàn bộ nợ lãi trong hạn và lãi quá hạn phát sinh từ việc sử dụng thẻ tín dụng số 5331470000208078 cho Ngân hàng số tiền tổng cộng 58.655.723 đồng (tiền lãi quá hạn tính đến ngày 23/5/2023).

Bị đơn – ông Nguyễn H: Ông H đã vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án, mặc dù Toà án nhân dân quận B đã tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ và tiến hành các thủ tục tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật đối với ông H.

Tại phiên toà:

Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với số tiền nợ gốc là 29.755.528 đồng, vẫn giữ nguyên yêu cầu buộc bị đơn – ông Nguyễn H thanh toán cho Ngân hàng số tiền còn nợ lãi tổng cộng là 58.655.723 đồng, trong đó bao gồm tiền lãi trong hạn là 2.520.523 đồng và nợ lãi quá hạn tính đến ngày 23/5/2023 là 56.135.200 đồng.

Thời hạn thanh toán và phương thức thanh toán: Thanh toán dứt điểm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Sau khi thụ lý hồ sơ, Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tống đạt theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, nhưng ông H vẫn không có mặt tham gia tố tụng, cũng không có ý kiến gì phản hồi thông báo thụ lý vụ án của Tòa án.

Tòa án đã tiến hành thủ tục tống đạt hợp lệ giấy triệu tập và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 19/7/2022 và lúc 08 giờ 00 phút ngày 24/10/2022 cho ông H, do ông H vắng mặt không lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn vắng mặt không có lý do.

Phần tranh luận: Người đại diện hợp pháp của Ngân hàng không có ý kiến phát biểu tranh luận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử:

Thẩm phán xác định đúng quan hệ tranh chấp, đúng thẩm quyền giải quyết, xác định vụ án thuộc trường hợp Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, việc gửi, cấp tống đạt các văn bản tố tụng cho đương sự và Viện kiểm sát đúng quy định từ Điều 170 đến Điều 181 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Tòa án đã tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo đúng quy định tại các Điều 209, 210 và 211 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tuy nhiên Thẩm phán còn vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định của tại điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, thành phần Hội đồng xét xử gồm những thành viên như đã công bố trong quyết định đưa vụ án ra xét xử. Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng quy định tại Điều 51 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng:

Nguyên đơn thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ được quy định tại Điều 70 và Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án:

Xét yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn thanh toán số tiền nợ gốc: 29.755.528 đồng:

- Căn cứ vào Bảng tóm tắt sao kê của Ngân hàng Nam Á từ tháng 7/2016 đến nay đối với thẻ tín dụng số thẻ 5331 4700 0020 8078 của ông Nguyễn H, xác định từ tháng 2/2017 ông H không thanh toán tiếp cho Ngân hàng. Từ tháng 6/2017, Ngân hàng đã cHển nợ của ông H sang nợ quá hạn. Dư nợ gốc của ông H đến tháng 6/2017 là 29.755.528 đồng.

- Tại phiên tòa, nguyên đơn có đơn đề nghị rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với khoản nợ gốc 29.755.528 đồng nêu trên. Xét việc rút một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là tự nguyện, không trái quy định của pháp luật và có lợi cho bị đơn nên chấp nhận.

Xét yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn thanh toán các khoản lãi trong hạn và lãi quá hạn:

Tại phiên tòa, nguyên đơn đề nghị thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện: số tiền lãi tính đến ngày 23/5/2023 là 58.655.723 đồng. Xét việc thay đổi yêu cầu của nguyên đơn không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện theo quy định tại Điều 244 Bộ luật TTDS nên chấp nhận.

Xét thấy, sau khi khách hàng vi phạm nghĩa vụ thanh toán, Ngân hàng đã tính lãi quá hạn đối với khoản nợ của ông Nguyễn H là phù hợp quy định tại bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng mà ông Nguyễn H đã ký với Ngân hàng.

Căn cứ theo khoản 2 Điều 3, khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 về lãi suất, phí trong hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng thì việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán khoản lãi tính đến ngày 23/5/2023 là 58.655.723 đồng là có cơ sở chấp nhận.

Bởi các lẽ trên, đề nghị HĐXX:

Căn cứ theo quy định tại Điều 385, Điều 401, Điều 402, Bộ luật dân sự 2015, Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 91, Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Nam Á, buộc bị đơn ông Nguyễn H thanh toán cho Ngân hàng TMCP Nam Á số tiền lãi tính tính đến ngày 23/5/2023 là 58.655.723 đồng.

- Về án phí sơ thẩm: Bị đơn phải đóng án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; nghe ý kiến của đương sự; nghe ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B, thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:

. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Quan hệ tranh chấp giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nam Á và ông Nguyễn H là tranh chấp Hợp đồng tín dụng. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản của Bộ luật Tố tụng Dân sự đây là loại vụ việc tranh chấp về hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.

Bị đơn – ông Nguyễn H khai địa chỉ cư trú vào thời điểm ký hợp đồng với nguyên đơn tại số 290/56/13/20D1 Nơ Trang Long, Phường 12, quận B. Theo kết quả cung cấp chứng cứ của Công an Phường 12, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh phúc đáp Quyết định yêu cầu cung cấp tài liệu, chứng cứ số 991/2022/QĐ-CCTLCC ngày 08/6/2022 của Tòa án nhân dân quận B đã xác minh “ông Nguyễn H, sinh năm 1985 có đăng ký thường trú tại số 290/56/13/20D1 Nơ Trang Long, Phường 12, quận B”. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận B.

. Về thủ tục tố tụng:

Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ bị đơn tham gia phiên tòa sơ thẩm xét xử lần 1 vào lúc 08 giờ 00 phút ngày 04/5/2023 và lần 2 lúc 08 giờ 00 phút ngày 23/5/2023 nhưng bị đơn vẫn vắng mặt. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành phiên tòa theo quy định.

. Về yêu cầu của nguyên đơn :

Nguyên đơn yêu cầu ông Nguyễn H thanh toán số tiền nợ gốc là 29.755.528đồng, Hội đồng xét xử nhận định:

Trong đơn khởi kiện, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả cho nguyên đơn số tiền nợ gốc là 29.755.528đồng phát sinh từ Hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng sử dụng thẻ số 0324/2016/902 ngày 28/6/2016. Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn xin rút yêu cầu này. Xét thấy, việc xin rút bớt một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, không trái quy định của pháp luật và có lợi cho bị đơn. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu thanh toán tiền nợ gốc của nguyên đơn.

- Nguyên đơn yêu cầu ông Nguyễn H thanh toán tiền lãi trong hạn và tiền lãi quá hạn tính đến ngày 23/5/2023 là 58.655.723 đồng, Hội đồng xét xử nhận định:

Trong Hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng sử dụng thẻ số 0324/2016/902 ngày 28/6/2016 các bên đã thống nhất thỏa thuận, lãi suất được áp dụng theo biểu lãi suất thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP Nam Á, nên việc ông H không thanh toán tiền nợ gốc, nợ lãi theo đúng thời hạn đã thỏa thuận là vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Xem xét về thời gian tính lãi, mức lãi suất, phí chậm thanh toán và phí mà ngân hàng đã áp dụng là hoàn toàn phù hợp thỏa thuận của các bên đương sự được quy định tại các Điều 5, Điều 10, Điều 11, Điều 12 và Điều 13 của Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP Nam Á và phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 13 Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 ; Điều 1 Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/4/2010 của Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay b ng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận; khoản 2 Điều 11 Quy chế cho vay của Tổ chức tín dụng đối với khách hàng được ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN ngày 31-12-2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước được sửa đổi, bổ sung b ng Quyết định số 127/2005/QĐ-NHNN ngày 03-2-2005; Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Do đó, yêu cầu về thanh toán tiền lãi trong hạn và lãi quá hạn của nguyên đơn có cơ sở để chấp nhận.

Trong khi đó, bị đơn vắng mặt không có lý do trong suốt quá trình toà án tiến hành điều tra thu thập chứng cứ và tại phiên toà hôm nay, mặc dù toà án đã tiến hành tống đạt hợp lệ cho phía bị đơn. Bị đơn đã tự từ bỏ quyền tranh tụng tại toà để bảo vệ quyền lợi cho mình. Do vậy, Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét cho quyền lợi của bị đơn.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn thanh toán số tiền lãi tính đến ngày 23/5/2023 tổng cộng là 58.655.723đồng (Năm mươi tám triệu sáu trăm năm mươi lăm ngàn bảy trăm hai mươi ba đồng), trong đó bao gồm tiền lãi trong hạn 2.520.523đồng và 56.135.200đồng tiền lãi quá hạn là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật nên có cơ sở để chấp nhận như lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận B.

.Về án phí:

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải trả cho nguyên đơn.

Nguyên đơn không phải chịu án phí nên được hoàn lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 146, Điều 147, Điều 157, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 267, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 471 và Điều 474 của Bộ luật dân sự 2005;

Áp dụng Khoản 2 Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Áp dụng Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự;

Áp dụng Luật án phí, lệ phí Tòa án;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn- Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nam Á.

Buộc bị đơn – ông Nguyễn H phải trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nam Á số tiền nợ lãi tính đến ngày 23/5/2023 phát sinh từ Hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng sử dụng thẻ số 0324/2016/902 ngày 28/6/2016 tổng cộng là 58.655.723đồng (Năm mươi tám triệu sáu trăm năm mươi lăm ngàn bảy trăm hai mươi ba đồng), trong đó bao gồm tiền lãi trong hạn 2.520.523đồng và 56.135.200đồng tiền lãi quá hạn.

Thời hạn thi hành: Thanh toán dứt điểm một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện về việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải thanh toán số tiền nợ gốc 29.755.528đồng phát sinh từ Hợp đồng tín dụng kiêm hợp đồng sử dụng thẻ số 0324/2016/902 ngày 28/6/2016 cho nguyên đơn.

Các bên đương sự thi hành án tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

2. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm là 2.932.786đồng (Hai triệu chín trăm ba mươi hai ngàn bảy trăm tám mươi sáu đồng) ông Nguyễn H có nghĩa vụ phải nộp toàn bộ.

Hoàn lại số tiền tạm ứng án phí 1.960.000đồng (Một triệu chín trăm sáu mươi ngàn đồng) cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nam Á, theo biên lai thu số 0049807 ngày 24/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận B.

3. Quyền kháng cáo:

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Nam Á được quyền làm đơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ông Nguyễn H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt bản án hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ