- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân:
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 880/2019/HNGĐ-ST Ngày 02 - 8 - 2019 V/v tranh chấp ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thuý Ái.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Phước Trinh;
2. Ông Huỳnh Văn Bé.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lụa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh không tham gia phiên tòa.
Trong ngày 02 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 455/2019/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2019 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 133/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 111/2019/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2019, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
Nguyễn Thị Thu T, sinh năm: 1980 (Có mặt).
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 460/6 đường C, tổ 2, ấp X, xã A, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tạm trú: Số 107, đường số 827, tổ 10, ấp P, xã P, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Bị đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm: 1980 (Vắng mặt).
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số 460/6 đường C, tổ 2, ấp X, xã A, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn xin ly hôn nộp ngày 22/10/2018 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn là bà Nguyễn Thị Thu T trình bày:
Bà và ông Trần Văn T tự nguyện xây dựng gia đình vào năm 2004, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
Sau khi xây dựng gia đình, vợ chồng bà chung sống với nhau tại nhà riêng xây dựng trên đất của bên chồng, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2008 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân do ông T nhậu nhẹt, sống không có trách nhiệm với gia đình, mỗi lần nhậu say ông T kiếm chuyện chửi bới, nặng nhẹ vợ con, bà nhiều lần dẫn con về nhà cha mẹ ruột sống, lúc đầu ông T còn qua năn nỉ, hứa hẹn sửa đổi nhưng sau đó ông T qua nhà cha mẹ bà kiếm chuyện quậy phá, hiện nay ông T đã có người phụ nữ khác, bà và ông T đã ly thân 7, 8 năm nay, tình cảm không còn, ông T cũng đồng ý ly hôn nhưng không chịu đến Tòa án, bà cảm thấy cả hai không còn quan tâm đến nhau, bà không thể tiếp tục chung sống với ông T được nữa nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn.
Bà và ông T có 01 con chung tên Trần Thị Trúc L, sinh ngày 04/11/2005. Bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung bà và ông T không có và cũng không có nợ chung.
* Bị đơn là ông Trần Văn T vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Tại đơn xin ly hôn nộp ngày 22/10/2018, bà Nguyễn Thị Thu T yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Củ Chi giải quyết cho bà ly hôn với ông Trần Văn T, yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng 01 con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung không có, nợ chung không có. Đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình được quy định tại Khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, ông Trần Văn T hiện đang cư trú tại số 460/6 Cây Gõ, tổ 2, ấp X, xã A, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Củ Chi theo Điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Về thủ tục tố tụng: Ông Trần Văn T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa nhưng vẫn không đến Tòa. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành phiên Tòa vắng mặt ông T theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Về quan hệ hôn nhân:
Bà Nguyễn Thị Thu T và ông Trần Văn T tự nguyện chung sống, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 99, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân xã A, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 08/9/2004, đây là hôn nhân hợp pháp.
Xét trình bày của bà T thì sau khi xây dựng gia đình vào năm 2004, thời gian đầu
T sống tại nhà riêng xây trên đất của gia đình bên chồng, hạnh phúc đến năm 2008 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do ông T không quan tâm chăm sóc gia đình, ông T thường xuyên nhậu nhẹt say xỉn, kiếm chuyện chửi mắng bà, bà thường xuyên phải về nhà cha mẹ ruột sống, thời gian đầu ông T còn qua với mong muốn bà về lại nhưng ông T vẫn chứng nào tật nấy, hiện ông T đã có người phụ nữ khác, bà và ông T không còn quan tâm gì đến nhau, bà cảm thấy không thể tiếp tục chung sống với ông T được nữa nên bà yêu cầu được ly hôn.
Xét ông T không đến Tòa án theo giấy triệu tập để cung cấp lời khai, điều đó cho thấy ông T không có thiện chí muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng cùng với bà T, do đó Hội đồng xét xử chỉ xem xét các chứng cứ do bà T cung cấp, bà T và ông T không còn chung sống cùng chung một địa chỉ, do đó Hội đồng xét xử xét không cần thiết phải xác minh về tình trạng hôn nhân của ông bà tại địa phương theo quy định tại Điều 208 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Xét tình trạng quan hệ vợ chồng giữa bà T và ông T đã đến mức trầm trọng, cuộc sống hôn nhân không thể kéo dài được, mục đích hôn nhân không đạt, căn cứ Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà T được ly hôn với ông T là có cơ sở.
Về con chung:
Bà T và ông T 01 con chung tên Trần Thị Trúc L, sinh ngày 04/11/2005, bà T yêu cầu được nuôi dưỡng con chung, ông T không đến Tòa để đưa ra ý kiến về con chung, cháu Trúc L cũng có nguyện vọng được sống với mẹ nên xét để ổn định tâm sinh lý của con chung, Hội đồng xét xử giao cháu Trúc L cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về việc cấp dưỡng nuôi con: Bà T không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con, xét đây là sự tự nguyện của bà T, không trái pháp luật nên ghi nhận ý kiến này. Nếu sau này bà T có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con sẽ được Tòa án giải quyết ở một vụ án khác.
Về tài sản chung: Bà T trình bày không có.
Về nghĩa vụ dân sự chung: Bà T trình bày không có.
Về nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xét buộc bà Nguyễn Thị Thu T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39, Điều 146, Điều 227, Điều 228, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Điều 9, Điều 14, Khoản 2 Điều 53, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110 và Điều 117 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ vào Điều 6, Điều 7, Điều 26, Điều 30, Điều 31 và Điều 32 của Luật Thi hành án Dân sự năm 2008;
- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân:
Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Thị Thu T và ông Trần Văn T.
Kể từ ngày 02/8/2019, Giấy chứng nhận kết hôn số 99, quyển số 01 do Ủy ban nhân dân xã A, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 19/9/2012 cho bà Nguyễn Thị Thu T và ông Trần Văn T không còn giá trị pháp lý.
2. Về con chung:
Bà Nguyễn Thị Thu T và ông Trần Văn T
con chung tên Trần Thị Trúc L, sinh ngày 04/11/2005.
Giao cháu Trúc L cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Ghi nhận sự tự nguyện của bà T về việc tạm thời không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi dưỡng con.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, yêu cầu của cá nhân, tổ chức theo quy định tại Khoản 5 Điều 84, Khoản 2 Điều 116 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc việc trợ cấp cho việc nuôi dưỡng, giáo dục con chung.
3. Về chia tài sản chung: Bà T trình bày không có.
4. Về nghĩa vụ dân sự chung: Bà T trình bày không có.
5. Về án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Thu T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng), được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số AA/2018/0015934 ngày 04/4/2019 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Củ Chi.
Thi hành tại cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án Dân sự.
6. Bà Nguyễn Thị Thu T có mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Trần Văn T vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND huyện Củ Chi; - Chi cục THADS huyện Củ Chi; - UBND xã A, huyện Củ Chi; - Các đương sự; - Lưu VP, Hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |