vanban.org

Bản án 88/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lai Châu, tỉnh Lai Châu Tuyên án 10/03/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tẩn Vần T, phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Tẩn Vần T: 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/12/2025. Tiếp tục áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị cáo Tẩn Vần T để đảm bảo cho việc thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tẩn Vần t - sử dụng trái phép chất ma túy (điều 256a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2025)"
  • Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tẩn Vần T, phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 3 - LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 88/2026/HS-ST
Ngày 10 -3 -2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Hồng Ngoãn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đèo Văn Vĩnh.

Ông Lý Quang Minh.

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyên – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lai Châu tham gia phiên toà: Bà Đặng Ngọc Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 3 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 - Lai Châu (điểm cầu trung tâm), xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 89/2026/TLST-HS ngày 29 tháng 01 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 89/2026/QĐXXST-HS ngày 27/03/2026 đối với bị cáo: Tẩn Vần T; Tên gọi khác: Không có; Sinh ngày 03/4/1984, tại tỉnh Lai Châu; Nơi cư trú trước khi bị bắt: bản Ch S , xã S S H , tỉnh LCh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: Không; giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: không biết chữ; con ông: Tẩn Phủ H (đã chết) và con bà Tẩn Tả M , sinh năm 1947; Gia đình có 04 anh, chị, em, bị cáo là con thứ tư; vợ Lý Ú M , sinh năm 1986; bị cáo có có 04 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 04/12/2025, tạm giam tại Phân trại tạm giam Phong Thổ, tỉnh Lai Châu cho đến nay; Bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần tại trại tạm giam Phong Thổ - Công an tỉnh Lai Châu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 27/10/2025 Công an Sin Suối Hồ triệu tập Tẩn Vần T là người đang điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế (Methadone) tại Trạm y tế xã S S H , tỉnh Lai Châu từ ngày 01/7/2024 lên làm việc. Tại trụ sở Công an xã Sin Suối Hồ, tỉnh Lai Châu, Tẩn Vần T khai nhận ngày 19/10/2025 T đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, loại Heroine. Cùng ngày 27/10/2025, Công an xã Sin Suối Hồ, tỉnh Lai Châu phối hợp cùng Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3, tỉnh Lai Châu; Điểm Trạm y tế số 1 xã Sin Suối Hồ, tỉnh Lai Châu; Đồn Biên phòng Sin Suối Hồ, tỉnh Lai Châu; Tổ công tác Công an tỉnh Lai Châu tại xã Phong Thổ tiến hành lấy mẫu xét nghiệm nước tiểu đối với Tẩn Vần T, kết quả T dương tính với chất ma túy, loại Morphine (MOP). Cùng ngày Cơ quan CSĐT đã thu thập mẫu nước tiểu của Tẩn Vần T làm mẫu để xác định chất, loại ma túy mà T sử dụng.

Tại bản kết luận giám định số 3024/KL-KTHS, ngày 31/10/2025 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Phú Thọ kết luận: “Tìm thấy Morphine trong mẫu chất lỏng màu vàng được xác định là mẫu nước tiểu của Tần Vần T, sinh năm 1984, trú tại: Bản Chí Sáng, xã Sin Suối Hồ tỉnh Lai Châu đựng trong chai nhựa, được niêm phong trong bì giấy là túi niêm phong mã số 23011565 gửi giám định; Morphine có trong sản phẩm chuyển hóa của Heroine trong cơ thể người.”

Tại Cơ quan điều tra Tẩn Vần T khai nhận: Khoảng hơn 11 giờ 00 ngày 19/10/2025, Tẩn Vần T một mình đi bộ từ nhà ở bản Chí Sáng, xã Sin Suối Hồ đi lên nương dong của gia đình T tại khu vực giáp ranh với bản Nậm Xe, xã Sin Suối Hồ. Sau khi xem nương xong T đi bộ về nhà, khi T đi về đến đoạn đường thuộc địa phận bản Nậm Xe, xã Sin Suối Hồ, tỉnh Lai Châu thì T gặp và mua được của một người đàn ông dân tộc Giáy, khoảng hơn 30 tuổi (không rõ nhân thân, lai lịch) 01 gói Heroine được gói ngoài bằng mảnh nilon màu hồng buộc túm lại với giá 20.000 đồng. Mua được Heroine, T đi thêm khoảng 50 mét chui vào bụi cây cạnh đường sử dụng hết bằng hình thức hít. Ngày 27/10/2025, Cơ quan CSĐT đã tiến hành lập hồ sơ xử lý Tẩn Vần T về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự.

Bản cáo trạng số 87/CT-VKSKV3 ngày 29/01/2026 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lai Châu, đã truy tố bị cáo Tẩn Vần T, về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Tẩn Vần T, từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”. Về vật chứng: Không thu giữ gì nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo quy định.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về nội dung bản kết luận điều tra và nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát. Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Tại lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xin được miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lai Châu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội mà bị cáo Tẩn Vần T đã thực hiện: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp với nội dung biên bản kiểm tra ma túy trong nước tiểu, các kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để khẳng định: Bị cáo Tẩn Vần T là người đang điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy. Ngày 19/10/2025, tại bản Ch S , xã S S H , tỉnh LCh, Tẩn Vần T đã thực hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (Heroine) bằng hình thức hít. Đến ngày 27/10/2025, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Lai Châu tiến hành lập hồ sơ xử lý theo quy định của pháp luật.

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo biết rõ hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự.

Điều luật quy định: “Điều 256a. Tội sử dụng trái phép chất ma túy:

1. Người nào sử dụng trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 03 năm:

a) Đang trong thời hạn cai nghiện ma túy hoặc điều trị nghiện các chất ma túy bằng thuốc thay thế theo quy định của Luật Phòng, chống ma túy”.

Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Lai Châu đã truy tố bị cáo về tội “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo:

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Tẩn Vần T đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, gia đình thuộc hộ nghèo, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

- Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội. Bị cáo khai đã nghiện ma túy từ năm 2019 và sử dụng bằng hình thức hít.

Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy ma túy đang là hiểm họa chung, cũng là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác tác động rất xấu đến trật tự xã hội, hủy hoại sức khỏe, khánh kiệt về kinh tế, bị cáo biết rõ các tác hại của ma túy gây ra nhưng không chịu cai nghiện mà vẫn thực hiện hành vi phạm tội nên cần thiết áp dụng áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi cũng như nhân thân của bị cáo mới đủ tác động cải tạo, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa xã hội. Tuy nhiên cũng cần xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo khi lượng hình.

Tình tiết liên quan đến vụ án: Về nguồn gốc ma túy, bị cáo khai là mua một người đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch. Ngoài lời khai của bị cáo Tẩn Vần T không có chứng cứ, tài liệu khác để chứng minh, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, làm rõ. Đối với mảnh giấy bạc và chiếc bật lửa Tẩn Vần T dùng để sử dụng trái phép chất ma túy, T khai đã vứt bỏ sau khi sử dụng xong, Cơ quan điều tra tiến hành truy tìm nhưng không thu hồi được. Do vậy Cơ quan CSĐT không đề cập vấn đề xử lý là có căn cứ. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật, tài liệu và xử lý vật chứng: không xem xét giải quyết.

Về án phí: theo quy định tại Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Bị cáo Tẩn Vần T là người dân tộc thiểu số, gia đình thuộc hộ nghèo, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn. Tại phiên tòa bị cáo có ý kiến xin được miễn án phí hình sự sơ thẩm nên Hội đồng xét xử quyết định miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, mức hình phạt và các vấn đề liên quan đến vụ án là hoàn toàn có cơ sở, đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 256a Bộ luật Hình sự; Điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 135, Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đối với bị cáo.

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Tẩn Vần T, phạm tội “Sử dụng trái phép chất ma túy”

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Tẩn Vần T: 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 04/12/2025.

Tiếp tục áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị cáo Tẩn Vần T để đảm bảo cho việc thi hành án.

3. Về án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ