- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đinh Văn A - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Đinh Văn Á 04 (Bốn) năm 06 (sáu) tháng tù.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 88/2026/HS-ST Ngày 25-5-2026 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hứa Tấn Chỉnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ban; bà Phạm Thị Thanh Hiếu.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Tuấn Huy – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân Khu vực 10 – Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 – Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Mai Thanh Tuyền - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 5 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 10 – Đà Nẵng tiến hành mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 94/2026/TLST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2026, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 1001/2026/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2026 đối với bị cáo:
Họ và tên: Đinh Văn Á (Tên gọi khác: T nuôi, T), sinh ngày 12-4-1990 tại: Đà Nẵng; nơi thường trú: Thôn N, xã Đ, thành phố Đà Nẵng; căn cước công dân: 049090014950; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; tôn giáo: không; con ông Đinh Văn N, sinh năm: 1957 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1963; gia đình bị cáo có 03 người con, bị cáo là con thứ 02; bị cáo có vợ Lê Thị Tường V, sinh năm 1990 (Đã ly hôn), có một con sinh năm 2017.
Tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân: Ngày 19-10-2018, bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xử phạt 04 (B) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tại Bản án số 219/2018/HS-PT (chấp hành xong vào ngày 17-01-2021).
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07-01-2026 đến ngày 15-01-2026 chuyển tạm giam. Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Điện Bàn, Trại tạm giam số 02 Công an thành phố Đ. Có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Đinh Văn N, sinh năm 1957, trú tại: Thôn N, xã Đ, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
- Người chứng kiến:
+ Ông Đinh Văn N, sinh năm 1957, trú tại: Thôn N, xã Đ, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
+ Ông Trương Phú P, sinh năm 1987, trú tại: Thôn N, xã Đ, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 18 giờ ngày 06-01-2026, sau khi đi uống cà phê tại quán C, thuộc thôn N, xã Đ, thành phố Đà Nẵng về thì Đinh Văn Á gặp lại một thanh niên (không rõ lai lịch) mà Á đã quen trước đây trong quá trình chấp hành án tại Trại giam A (tên thường gọi là “Mèo”). Ánh hỏi người này có biết chỗ nào bán ma túy không để Á hỏi mua với số tiền 2.000.000 (Hai triệu) đồng thì M nói Á đi theo để M chỉ. Nói xong, M điều khiển xe mô tô hiệu Exciter 135 chạy trước (do trời tối nên Á không nhìn rõ biển kiểm soát), Á thì điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ đen, BKS: 92D1-430.90 chạy theo sau. Mèo dẫn Á chạy lòng vòng vào khu vực cánh đồng thuộc xã Đ, thành phố Đà Nẵng một lúc lâu rồi dừng lại tại chỗ một cái cống, bên cạnh bờ mương rồi nói Á dừng lại đợi Mèo. Á đứng đợi một lúc khoảng hơn 30 phút thì M quay lại và nói Á chạy thẳng tới một đoạn khoảng 100m có một cái cây bên lề đường, bên dưới gốc cây đó người thanh niên để gói ma túy dưới miếng gạch men, lấy túi ma túy xong thì để lại tiền y như vậy cho M. Đinh Văn Á chạy theo chỉ dẫn của M, khi đến vị trí như chỉ dẫn của M thì Á lấy túi ma túy và để lại số tiền 2.000.000 (Hai triệu) đồng tại vị trí cất giấu ma túy. Sau đó, Á mang số ma túy trên về cất giấu trong phòng ngủ của mình nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.
Đến sáng ngày 07-01-2026, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên Đinh Văn Á lấy một ít ma túy đá trong túi ma túy đã mua trước đó ra và dùng chai nhựa có chữ W – up gắn nắp nhựa màu xanh, có đục hai lỗ rồi gắn nỏ thủy tinh, ống hút nhựa tạo thành bộ dụng cụ sử dụng ma túy. Ánh đổ một ít ma túy vào nỏ rồi đốt lên sử dụng một mình tại phòng ngủ của Á. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, Tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Khu vực 03, Công an thành phố Đ phối hợp với Công an xã Đ, thành phố Đà Nẵng tiến hành kiểm tra hành chính tại nhà của Đinh Văn Á thì phát hiện Á đang sử dụng trái phép chất ma túy. Qua đó, thu giữ 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 chai nhựa Wake-Up, có nắp nhựa màu xanh đục 02 lỗ gắn đoạn ống hút và nỏ thủy tinh (bên trong nỏ có bám dính chất màu đen). Tại bên trên chiếu ngủ dưới nền nhà (trong phòng ngủ) thu giữ 01 túi ni lông trong suốt, kích thước (7,5x4,4) cm trên miệng túi có đường viền màu đỏ, bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng nghi là ma túy. Tổ Công tác tiến hành thử test nước tiểu của Đinh Văn Á cho kết quả dương tính với ma túy, loại Methamphetamine (tức ma túy đá). Trên cơ sở tài liệu, chứng cứ đã thu thập, Tổ Công tác tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Đinh Văn Á về hành vi "Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Bản Kết luận giám định số 85/KL-KTHS ngày 12-01-2026 của Phòng K Công an thành phố Đ xác định:
- Chất tinh thể rắn màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu M1 và chất bám dính màu đen trong nỏ thủy tinh trong bì niêm phong ký hiệu N1 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu M1: 2,425 gam; không xác định được khối lượng mẫu N1.
- Tìm thấy chất ma túy loại Methamphetamine trong mẫu nước tiểu thu giữ của Đinh Văn Á ký hiệu A1 gửi giám định.
Methamphetamine là chất ma túy STT 267, Danh mục IIB ban hành kèm Nghị định số 28/2026/NĐ-CQ ngày 19/01/2026 của Chính phủ về quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất.
Vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đã thu giữ các vật chứng sau:
- 02 (hai) bì niêm phong của Phòng K Công an thành phố Đ, bên trong có chứa các mẫu vật được hoàn trả sau giám định; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy gồm 01 chai nhựa Wake – up, có nắp nhựa màu xanh đục 02 lỗ gắn đoạn ống hút và nỏ thủy tinh, bên trong nỏ có bám dính chất màu đen; 01 (một) túi nilong trong suốt, bên trong chứa 2,425 gam ma túy, loại Methamphetamine.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XS, số IMEI 35.735909.0335893, mật khẩu màn hình: 142536, bên trong gắn sim số: 0905.787.097.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Galaxy S22 UTRA, màu đen, số IMEI: 350962372921186, mật khẩu màn hình: 142536, bên trong gắn sim số: 0906445565.
- 01 (một) quẹt gas màu tím; 01 (một) khối kim loại bên trên ghi 20g; 10 (mười) ống thủy tinh trong suốt dài 20cm; 10 (mười) ống hút nhựa màu trắng dài 21cm; 01 (một) cân tiểu ly màu bạc.
Cáo trạng số 52/CT-VKSKV10-HS ngày 23 tháng 4 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 – Đà Nẵng truy tố bị cáo Đinh Văn Á về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2025).
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã quy kết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 – Đà Nẵng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử sơ thẩm giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Đinh Văn Á về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt:
- Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đinh Văn Á từ 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng đến 04 (B) năm tù.
- Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
+ Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) bì niêm phong của Phòng K Công an thành phố Đ, bên trong có chứa các mẫu vật được hoàn trả sau giám định; 01 (một) quẹt gas màu tím; 01 (một) khối kim loại bên trên ghi 20g; 10 (mười) ống thủy tinh trong suốt dài 20cm; 10 (mười) ống hút nhựa màu trắng dài 21cm; 01 (một) cân tiểu ly màu bạc.
+ Trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XS, số IMEI 35.735909.0335893, mật khẩu màn hình: 142536, bên trong gắn sim số: 0905.787.097; 01 (một) điện thoại di động hiệu Galaxy S22 UTRA, màu đen, số IMEI: 350962372921186, mật khẩu màn hình: 142536, bên trong gắn sim số: 0906445565.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận, tại lời nói sau cùng các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Về nội dung:
Kết quả tranh tụng tại phiên tòa xác định được: Vào lúc 11 giờ 30 phút ngày 07-01-2026, tại thôn N, xã Đ, thành phố Đà Nẵng, Đinh Văn Á đã có hành vi tàng trữ trái phép 2,425 gam ma túy, loại Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Xét kết quả tranh tụng công khai tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đối chiếu với quy định của pháp luật hình sự hiện hành, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo Đinh Văn Á đã đủ các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2025). Do vậy, Cáo trạng số 52/CT-VKSKV10-HS ngày 23 tháng 4 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 10 – Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Đinh Văn Á với tội danh và điều luật như đã viện dẫn ở trên là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
Xét tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo thì thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp chế độ độc quyền quản lý Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự, trị an tại địa phương, gây ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển giống nòi của dân tộc, là nguyên nhân làm gia tăng các tệ nạn xã hội, phát sinh các tội phạm khác. Bị cáo có đủ nhận thức để biết được tác hại của ma túy nhưng vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị Tòa án xử phạt 04 (B) năm tù về tội “Mua bán trái phé chất ma túy”. Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo có người thân có công cách mạng. Do vậy, Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2025) để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Xét, bị cáo không có thu nhập ổn định, không thu lợi bất chính khi phạm tội. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
- Đối với 02 (hai) bì niêm phong của Phòng K Công an thành phố Đ, bên trong có chứa các mẫu vật được hoàn trả sau giám định; 01 (một) quẹt gas màu tím; 01 (một) khối kim loại bên trên ghi 20g; 10 (mười) ống thủy tinh trong suốt dài 20cm; 10 (mười) ống hút nhựa màu trắng dài 21cm; 01 (một) cân tiểu ly màu bạc là vật nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XS, số IMEI 35.735909.0335893, mật khẩu màn hình: 142536 gắn sim số: 0905.787.097; 01 (một) điện thoại di động hiệu Galaxy S22 UTRA, màu đen, số IMEI: 350962372921186, mật khẩu màn hình: 142536 gắn sim số: 0906445565 không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
Các vấn đề liên quan khác:
- Đối với người thanh niên tên “Mèo” (không xác định nhân thân, lai lịch) đã bán ma túy cho Đinh Văn Á: quá trình điều tra, Á khai nhận ngày 06-01-2026 Á mua ma túy lần đầu của người này tại đoạn đường bê tông thuộc cánh đồng xã Đ, thành phố Đà Nẵng nhưng không nhớ chính xác vị trí địa điểm mua bán ma túy cũng như đặc điểm nhận dạng của người đã bán ma túy cho Á. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đã thực hiện các biện pháp truy xét, xác minh nhưng không xác định được lai lịch của người tên “Mèo” nên không có căn cứ để xử lý là phù hợp.
- Đối với ông Đinh Văn N là chủ sở hữu hợp pháp xe mô tô Yamaha Sirius, màu đỏ đen, BKS: 92D1-430.90 mà Á dùng đi mua ma túy. Quá trình điều tra xác định, việc Á dùng xe trên đi mua ma túy vào ngày 06-01-2026, ông N hoàn toàn không biết. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ không đề cập xử lý trách nhiệm đối với ông N là phù hợp.
- Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Đinh Văn Á tại nhà thuộc thôn N, xã Đ, thành phố Đà Nẵng vào ngày 07-01-2026: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ đã chuyển hồ sơ đến Công an xã Đ, thành phố Đà Nẵng đề nghị xử phạt vi phạm hành chính đối với Á về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy quy định tại điểm a khoản 1 Điều 30 Nghị định 282/2025/NĐ-CP ngày 30-10-2025 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo Đinh Văn Á phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2025): Tuyên bố bị cáo Đinh Văn Á phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Đinh Văn Á 04 (Bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 07 tháng 01 năm 2026.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 02 (hai) bì niêm phong của Phòng K Công an thành phố Đ; 01 (một) quẹt gas màu tím; 01 (một) khối kim loại bên trên ghi 20g; 10 (mười) ống thủy tinh trong suốt dài 20cm; 10 (mười) ống hút nhựa màu trắng dài 21cm; 01 (một) cân tiểu ly màu bạc.
- Trả lại cho bị cáo Đinh Văn Á 01 (một) điện thoại di động hiệu iphone XS, số IMEI 35.735909.0335893, mật khẩu màn hình: 142536, bên trong gắn sim số: 0905.787.097; 01 (một) điện thoại di động hiệu Galaxy S22 UTRA, màu đen, IMEI: 350962372921186, mật khẩu màn hình: 142536, bên trong gắn sim số: 0906445565.
Vật chứng hiện đang quản lý tại Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 10 – Đà Nẵng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28 tháng 4 năm 2026.
Về án phí: Căn cứ các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Đinh Văn Á phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được quy định theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 25-5-2026). Những người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND TP Đà Nẵng; - VKSND TP Đà Nẵng; - Các cơ quan tiến hành tố tụng; - Người tham gia tố tụng; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hứa Tấn Chỉnh |