vanban.org

Bản án 88/2026/HS-PT — Hình sự

TAND TP Đà Nẵng Tuyên án 14/04/2026 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 14/04/2026 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

I. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn V; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2026/HSST ngày 20/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng về hình phạt đối với bị cáo.

Xử phạt: Bị cáo Trần Văn V 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 12/9/2025. Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường v… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn V - tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? I. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn V; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2026/HSST ngày 20/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng về hình phạt đối với bị cáo.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 88/2026/HS-PT
Ngày 14 - 4 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Phi Yến

Các Thẩm phán: Ông Ngô Hà Nam

Ông Trần Minh Long

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Tuyết Mai - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thanh Mai - Kiểm sát viên

Trong ngày 14 tháng 4 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 60/2026/TLPT-HS ngày 25 tháng 02 năm 2026 đối với bị cáo Trần Văn V do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2026/HS-ST ngày 20 tháng 01 năm 2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng.

Bị cáo có kháng cáo: Trần Văn V; Giới tính: nam; Tên gọi khác: T; Sinh ngày 18 tháng 5 năm 1999 tại thành phố Đà Nẵng; Số C; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn Y, xã H, thành phố Đà Nẵng; Nghề nghiệp: lao động phổ thông; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: lao động phổ thông; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Trần Quang H, sinh năm 1973 và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1975; Tiền án, tiền sự: không; Bắt tạm giam ngày 12/09/2025, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 1-Công an thành phố Đ (Bị cáo có mặt tại phiên toà).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 05 giờ 05 phút ngày 12/9/2025, tại trước nhà số F đường N, phường N, thành phố Đà Nẵng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ phát hiện bắt quả tang Trần Văn V có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói zip ni lông bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng và 01 gói ni lông màu đỏ có in chữ Ferrari, nghi là ma túy, tại ghế phụ phía trước của xe ô tô nhãn hiệu MG, màu xám, BKS: 43A-903.87.

- Tang vật thu giữ:

+ 01 gói zip ni lông bên trong chứa tinh thể rắn màu trắng và 01 gói ni lông màu đỏ có ghi chữ Ferrari. Niêm phong ký hiệu K1;

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 15 Pro Max, màu xám, gắn sim số 0935.209.255;

+ 01 xe ô tô nhãn hiệu MG, màu xám, BKS: 43A-903.87.

- Tiến hành xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể Trần Văn V, kết quả dương tính với chất ma túy.

-Tiến hành khám xét khẩn cấp nhà của Trần Văn V tại thôn Y, xã H, TP.Đà Nẵng, kết quả: không thu giữ đồ vật liên quan.

* Theo Kết luận giám định số 1636 ngày 17/9/2025 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng, kết luận:

- Chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong niêm phong ký hiệu K1 gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, khối lượng mẫu: 0,9 gam.

- Chất bột màu vàng trong niêm phong ký hiệu K1 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine và Ketamine, khối lượng mẫu: 2,28 gam.

H1 lại đối tượng giám định: toàn bộ đối tượng còn lại sau giám định, gồm: 0,78 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng; 1,88 gam chất bột màu vàng và toàn bộ vỏ bao gói.

Quá trình điều tra xác định:

Khoảng cuối tháng 8/2025, Trần Văn V có liên hệ qua ứng dụng Signal với 01 đối tượng tên Đ (không rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua 01 gói ma túy loại ketamine, giá 2.500.000 đồng và 01 gói ma túy loại nước vui, có in chữ Ferrari, giá 2.500.000 đồng. Đ đồng ý, hẹn giao dịch lúc 20 giờ cùng ngày tại đường H, phường A, TP Đà Nẵng. Sau đó, V đến nhận số ma túy, trả tiền mặt trực tiếp cho Đ rồi mang về cất giữ trên xe ô tô BKS: 43A - 903.87. Đến khoảng 02 giờ ngày 08/9/2025, tại khu vực trước nhà V, địa chỉ: thôn Y, xã H, TP Đà Nẵng, V có sử dụng một ít ma túy loại ketamine trên xe ô tô BKS: 43A - 903.87, sử dụng một mình, số còn lại cất giấu dưới ghế phụ phía trước của xe ô tô. Đến khoảng 05 giờ 05 phút ngày 12/9/2025, bị Cơ quan CSĐT Công an TP.Đà Nẵng kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2026/HS-ST ngày 20-01-2026 của Tòa án nhân dân khu vực 02 - Đà Nẵng đã quyết định như sau:

Căn cứ: điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Tuyên bố: Trần Văn V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Trần Văn V 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 12/09/2025.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo.

Ngày 03/02/2026, bị cáo Trần Văn V kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần Văn V giữ nguyên kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau:

Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Trần Văn V là đúng trình tự thủ tục và trong thời hạn kháng cáo nên hợp lệ.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2026/HS-ST ngày 20-01-2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng đã xét xử bị cáo Trần Văn V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử phạt Trần Văn V 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù là hoàn toàn phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới. Vì vậy, Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Ngày 03/02/2026, bị cáo Trần Văn V có đơn kháng cáo trong hạn luật định theo đúng quy định tại các Điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự nên kháng cáo của bị cáo là hợp pháp.

Về nội dung: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Văn V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, do đó Hội đồng xét xử phúc thẩm có cơ sở để khẳng định:

Vào lúc 05 giờ 05 phút ngày 12/09/2025, tại trước nhà số F đường N, phường S, thành phố Đà Nẵng, bị cáo Trần Văn V đã có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, tổng khối lượng 3,18g ma túy. Trong đó, 0,9 gam, loại Ketamine, chất rắn dạng tinh thể màu trắng; 2,28 gam ma túy, loại: Methamphetamine và Ketamine, chất bột màu vàng.

Hành vi của bị cáo Trần Văn V đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp "có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm quy định tại điểm b đến điểm h khoản này” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người và đúng tội.

Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt bị cáo Trần Văn V thì thấy:

Hành vi trên của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quản lý nhà nước về chất cấm, các chất gây nghiện, gây ảnh hưởng đến sức khỏe, suy giảm trí nhớ, rối loạn tâm thần, suy giảm khả năng lao động, ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội, tình hình địa phương. Vì vậy, đối với bị cáo cần xử lý nghiêm minh mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.

Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo cũng như áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo 03 năm 09 tháng tù là hoàn toàn phù hợp. Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay, bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ nào mới nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo như quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

Do không chấp nhận kháng cáo của bị cáo nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

I. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Văn V; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2026/HSST ngày 20/01/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng về hình phạt đối với bị cáo.

1. Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Trần Văn V 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 12/9/2025.

2. Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo Trần Văn V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.

II. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

III. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án ngày 14/4/2026./.

Cỡ chữ