vanban.org

Bản án 88/2026/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Phú Thọ Tuyên án 17/06/2026 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 17/06/2026 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Bùi Văn C, Lại Tiến T. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 23/2026/HS-ST ngày 13/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Phú Thọ về biện pháp miễn chấp hành hình phạt.

1. Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn C, Lại Tiến T phạm tội Đánh bạc. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Văn C, Lại Tiến T - đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Bùi Văn C, Lại Tiến T. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 23/2026/HS-ST ngày 13/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Phú Thọ về biện pháp miễn chấp hành hình phạt.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 88/2026/HS-PT
Ngày: 17 - 06 - 2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

bà Hoàng Ngọc Liễu

Các Thẩm phán:

ông Nguyễn Mạnh Hùng

ông Nguyễn Quang Tuấn

- Thư ký phiên tòa: bà Khà Thị Yêu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: ông Hoàng Cao Minh - Kiểm sát viên

Ngày 17 tháng 6 năm 2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 104/2026/TLPT-HS ngày 20/4/2026 đối với các bị cáo Bùi Văn C, Lại Tiến T do có kháng cáo của các Bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 23/2026/HS-ST ngày 13/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Phú Thọ.

Các Bị cáo có kháng cáo, không bị kháng nghị:

1. BÙI VĂN C, sinh năm 1971 tại Phú Thọ. Nơi cư trú: xóm M, phường T, tỉnh Phú Thọ; số CCCD: 017071006771; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 6/10; Dân tộc: Mường; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; có bố là Bùi Văn H và mẹ là Đinh Thị T1 (đều đã chết); có vợ là Đinh Thị M và 01 con (đã trưởng thành).

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Năm 2019, bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/11/2025 đến ngày 07/11/2025, hiện được thay thế biện pháp ngăn chặn Lệnh cấm đi khỏi nơi cứ trú. Có mặt tại phiên tòa.

2. LẠI TIẾN T, sinh năm 1959 tại tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: tổ D, phường H, tỉnh Phú Thọ; số CCCD: 038059020315; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/10; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; có bố là Lại Đình T2 và mẹ là Nguyễn Thi L (đều đã chết); có vợ là Nguyễn Thị Kim L1 và 02 con (đã trưởng thành).

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Năm 2009, bị xử phạt hành chính về hành vi đánh bạc.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/11/2025 đến ngày 07/11/2025, hiện được thay thế biện pháp ngăn chặn Lệnh cấm đi khỏi nơi cứ trú. Có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 01/11/2025, Bùi Văn C đặt vấn đề với Lại Tiến T về việc sẽ chuyển cho T số lô, số đề mà C bán cho khách để được hưởng phần trăm hoa hồng. C với T thỏa thuận như sau: Đối với số lô 2 số, Bùi Văn C bán cho khách 23.000đồng/1 điểm, C sẽ chuyển cho Lại Tiến T 22.000đồng/1 điểm. Nếu khách mua trúng thưởng sẽ được trả 80.000 đồng; Đối với số lô đề, C không khuyến mại cho khách, C chuyển cho T 74% số tiền khách mua, C được nhận 26% số tiền thu của khách mua. Nếu số trúng thưởng thì khách mua được trả gấp 70 lần số tiền bỏ ra mua số đề (loại 2 số) trúng thưởng và 400 lần số tiền bỏ ra mua số đề (loại 3 số) trúng thưởng. Căn cứ vào Kết quả xổ số kiến thiết Miền B mở thưởng trong ngày để xác định thắng thua và thanh toán cho nhau. T và C thống nhất thanh toán tiền thắng thua với nhau trực tiếp vào ngày hôm sau bằng tiền mặt.

Khoảng 17 giờ ngày 01/11/2025, C ngồi bán số lô, số đề tại cửa nhà ở xóm M, phường T, đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, C tổng hợp các số lô, số đề đã bán trong ngày vào tờ giấy A4, sử dụng điện thoại Iphone 12 Promax chụng bảng tổng hợp số lô, số đề đã bán cho khách với tổng số tiền 3.700.000 đồng, rồi chuyển qua ứng dụng Facebook cho T, khi nhận được tin nhắn của C, T đã trả lời “ok”. Đối chiếu với kết quả xổ số kiến thiết Miền B mở thưởng cùng ngày thì bảng số lô, số đề C chuyển cho T trúng thưởng 3.850.000 đồng. Tổng số tiền C và T đánh bạc với nhau ngày 01/11/2025 là 7.550.000 đồng. Ngày 02/11/2025, C và T đã đến Cơ quan công an để đầu thú hành vi phạm tội.

Bản án hình sự sơ thẩm số: 23/2026/HS-ST ngày 13/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Phú Thọ đã quyết định: Căn cứ khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 58, Điều 17 của Bộ luật Hình sự. Tuyên bố các bị cáo Bùi Văn C, Lại Tiến T phạm tội Đánh bạc.

Xử phạt: Bùi Văn C 09 (Chín) tháng tù; bị cáo Lại Tiến T 08 (T3) tháng tù. Ngoài ra, Bản án hình sự còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của các Bị cáo.

Ngày 16/3/2026, các bị cáo Bùi Văn C, Lại Tiến T có đơn kháng cáo xin được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Về thời hạn và thủ tục kháng cáo của các Bị cáo đã được thực hiện trong thời hạn và đúng trình tự theo quy định. Về nội dung: Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Bùi Văn C, Lại Tiến T tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Tại cấp phúc thẩm, các Bị cáo xuất trình thêm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới như các Bị cáo sức khỏe yếu, gia đình bị cáo T có công với cách mạng, có anh trai tham gia quân đội và là Liệt sĩ, được chính quyền địa phương xác nhận chấp hành tốt chủ trương, chính sách, pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú. Xét thấy, các Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ hình sự, số tiền đánh bạc không lớn, có nơi cư trú rõ ràng. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Bùi Văn C, Lại Tiến T, Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 23/2026/HS - ST ngày 13/3/2026 của Toà án nhân dân khu vực 12 - Phú Thọ theo hướng giữ nguyên mức hình phạt và cho các Bị cáo được hưởng án treo. Về án phí: các Bị cáo không chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Khi nói lời sau cùng, các Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là sai, mong nhận được sự khoản hồng của Nhà N để cho các Bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng

Về hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng, Cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, bị cáo không có ý kiến và khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

Sau khi xét xử sơ thẩm, các Bị cáo có đơn kháng cáo bản án. Căn cứ Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, kháng cáo trong hạn luật định, hợp lệ nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Về nội dung

Tại phiên tòa phúc thẩm, các Bị cáo một lần nữa đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, cụ thể: ngày 01/11/2025, các bị cáo Bùi Văn C, Lại Tiến T có hành vi đánh bạc dưới hình thức thu gom (bán) các số lô, đề trái quy định của Nhà nước. Tổng số tiền đánh bạc là 7.550.000 đồng (trong đó 3.700.000 đồng là số tiền đánh bạc và 3.850.000 đồng là số tiền trúng thưởng sau khi đối chiếu Kết quả xổ số M). Lời khai của các Bị cáo phù hợp với toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Bùi Văn C, Lại Tiến T về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo xin được hưởng án treo của các Bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, áp dụng cho các Bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như các Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội đã ra đầu thú là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, để xử phạt bị cáo Bùi Văn C 09 (Chín) tháng tù và bị cáo Lại Tiến T 08 (T3) tháng tù là phù hợp.

Quá trình giải quyết tại phúc thẩm, các Bị cáo xuất trình thêm được các tình tiết mới như các Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, sức khỏe yếu (bị cáo C bị biến chứng bệnh tiểu đường đang phải điều trị, bị cáo T già, yếu, có bệnh về mắt), gia đình bị cáo Lại Tiến T có công với cách mạng, có anh trai là Lại Đình Đ tham gia quân đội và được Tổ Quốc ghi công là Liệt sĩ là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Đối chiếu Văn bản hợp nhất số 03/VBHN-TANDTC ngày 10/7/2025 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 Bộ luật sự về án treo, xét các bị cáo C, T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, được chính quyền địa phương xác nhận luôn chấp hành đúng chủ trương, chính sách pháp luật và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú. Do đó, cần chấp nhận kháng cáo của các Bị cáo, Sửa án hình sự sơ thẩm theo hướng cho các Bị cáo được hưởng án treo.

Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hiệu kháng cáo, kháng nghị theo quy định tại Điều 343 Bộ luật tố Tụng hình sự.

Về án phí hình sự phúc thẩm: các Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357; Điều 343 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2026/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Bùi Văn C, Lại Tiến T. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số: 23/2026/HS-ST ngày 13/3/2026 của Tòa án nhân dân khu vực 12 - Phú Thọ về biện pháp miễn chấp hành hình phạt. Cụ thể:

1.1. Về tội danh và hình phạt:

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 và Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Văn C, Lại Tiến T phạm tội Đánh bạc.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Văn C 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Xử phạt: Bị cáo Lại Tiến T 08 (T3) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 16 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.

Giao bị cáo Bùi Văn C cho Ủy ban nhân dân phường T, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Lại Tiến T cho Ủy ban nhân dân phường H, tỉnh Phú Thọ giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Gia đình các bị cáo Bùi Văn C, Lại Tiến T có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục các Bị cáo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 87 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.

1.2. Các quyết định khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

1.3. Về án phí phúc thẩm: các bị cáo Bùi Văn C, Lại Tiến T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

2. Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (17/6/2026)./.

Cỡ chữ